Chuyển tới nội dung chính

Lời cảm ơn

Mục tiêu chính của tôi là giới thiệu một bộ sách toàn diện về price action, và điều khiến độc giả lo ngại nhất là cuốn sách trước đây của tôi, Reading Price Charts Bar by Bar, quá khó đọc. Tôi vô cùng trân trọng mọi nhận xét mang tính xây dựng của độc giả cũng như những người tham dự các webinar trực tiếp hằng ngày của tôi. Nhiều nhận xét trong số đó sâu sắc đến khó tin, và tôi đã đưa chúng vào ấn bản hiện tại. Tôi cũng biết ơn tất cả các trader đã tham gia phòng trading trực tiếp của tôi, bởi họ đã cho tôi cơ hội lặp đi lặp lại những điều mình muốn nói cho đến khi có thể diễn đạt rõ ràng những gì mình đang quan sát và thực hiện. Họ cũng đặt ra nhiều câu hỏi giúp tôi tìm được cách dùng từ để truyền đạt hiệu quả hơn, và tôi đã đưa những cách diễn đạt ấy vào các cuốn sách này.

Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Victor Brancale, người đã dành nhiều giờ đọc soát các bản thảo và đưa ra hàng trăm chỉnh sửa cùng đề xuất vô cùng hữu ích; và tới Robert Gjerde, người đã xây dựng, quản trị website của tôi và thẳng thắn góp ý về chat room cũng như website. Cuối cùng, tôi muốn cảm ơn Ginger Szala, Group Editorial Director của tạp chí Futures, vì đã liên tục tạo cơ hội để tôi xuất bản bài viết và trình bày trong các webinar, đồng thời thường xuyên cho tôi những lời khuyên rất hữu ích về cách tham gia sâu hơn vào cộng đồng trading.

Danh sách thuật ngữ được sử dụng trong cuốn sách này

Tất cả các thuật ngữ dưới đây được định nghĩa theo hướng thực tiễn nhằm giúp ích cho trader, không nhất thiết theo cách lý thuyết mà các technician thường mô tả.

always in Nếu buộc phải luôn có vị thế trên thị trường, hoặc long hoặc short, thì đây chính là vị thế hiện tại của bạn (always in long hoặc always in short). Nếu tại bất kỳ thời điểm nào bạn buộc phải chọn giữa việc khởi tạo một long trade hay một short trade và tự tin vào lựa chọn của mình, thì lúc đó thị trường đang ở always-in mode. Gần như mọi trade kiểu này đều cần một spike theo hướng trend trước khi trader có đủ tự tin.

barbwire Một trading range gồm từ ba bar trở lên, phần lớn chồng lấn lên nhau và có ít nhất một bar là doji. Đây là một dạng tight trading range có các tail nổi bật và thường gồm những bar tương đối lớn.

bar pullback Trong một upswing, bar pullback là một bar có low thấp hơn low của bar trước. Trong một downswing, đó là một bar có high cao hơn high của bar trước.

bear reversal Sự thay đổi trend từ đi lên sang đi xuống, tức thành một bear trend.

blown account Một tài khoản mà các khoản lỗ đã làm số dư giảm xuống dưới yêu cầu margin tối thiểu do broker quy định; bạn sẽ không được phép đặt trade trừ khi nạp thêm tiền.

breakout High hoặc low của bar hiện tại vượt ra ngoài một mức giá quan trọng trước đó, chẳng hạn như một swing high hoặc swing low, high hoặc low của bất kỳ bar nào trước đó, một trend line hoặc một trend channel.

breakout bar (hoặc bar breakout) Một bar tạo ra breakout. Đây thường là một trend bar mạnh.

breakout mode Một setup mà breakout theo bất kỳ hướng nào cũng được kỳ vọng sẽ có follow-through.

breakout pullback Một pullback nhỏ kéo dài từ một đến khoảng năm bar, xuất hiện trong vòng vài bar sau breakout. Vì xem đó là một pullback, bạn kỳ vọng breakout sẽ tiếp diễn và pullback là setup cho sự tiếp diễn ấy. Nếu thay vào đó bạn cho rằng breakout sẽ thất bại, bạn sẽ không dùng thuật ngữ pullback mà sẽ xem pullback ấy là một failed breakout. Ví dụ, nếu có một breakout năm bar lên trên bear trend line nhưng bạn tin bear trend sẽ tiếp tục, bạn sẽ cân nhắc short bear flag này chứ không tìm cách buy pullback ngay sau khi nó breakout xuống dưới.

breakout test Một breakout pullback tiến sát mức entry price ban đầu để test một breakeven stop. Nó có thể vượt quá hoặc chưa chạm tới mức đó vài tick. Nó có thể xảy ra trong vòng một hoặc hai bar sau entry, sau một move kéo dài, hoặc thậm chí muộn hơn từ 20 bar trở lên.

bull reversal Sự thay đổi trend từ downtrend sang uptrend, tức thành một bull trend.

buying pressure Những bull mạnh đang khẳng định ưu thế, và hoạt động buying của họ tạo ra các bull trend bar, các bar có tail ở đáy và các two-bar bull reversal. Tác động này mang tính tích lũy và cuối cùng thường dẫn đến giá cao hơn.

candle Cách biểu diễn price action trên chart, trong đó body là vùng nằm giữa open và close. Nếu close cao hơn open, đó là một bull candle và được hiển thị màu trắng. Nếu close thấp hơn open, đó là một bear candle và có màu đen. Các đường phía trên và phía dưới được gọi là tail; một số technician gọi chúng là wick hoặc shadow.

chart type Chart dạng line, bar, candle, volume, tick hoặc một dạng chart khác.

climax Một move đã đi quá xa, quá nhanh và hiện đã đảo hướng sang trading range hoặc trend ngược chiều. Phần lớn climax kết thúc bằng trend channel overshoot và reversal, nhưng đa số những reversal đó dẫn đến trading range chứ không phải trend ngược chiều.

countertrend Một trade hoặc setup đi ngược hướng trend hiện tại, tức hướng always-in hiện tại. Đây là chiến lược thua lỗ đối với phần lớn trader vì risk thường ít nhất cũng lớn bằng reward, còn probability hiếm khi đủ cao để trader’s equation trở nên có lợi.

countertrend scalp Một trade được thực hiện với niềm tin rằng trend vẫn còn dư địa tiếp diễn nhưng sắp có một pullback nhỏ; bạn vào lệnh countertrend để kiếm một khoản profit nhỏ trong lúc pullback nhỏ ấy hình thành. Đây thường là sai lầm và nên tránh.

day trade Một trade được thực hiện với ý định exit ngay trong ngày entry.

directional probability Probability để thị trường đi lên hoặc đi xuống một số tick bất kỳ trước khi đi một số tick nhất định theo hướng ngược lại. Nếu xét các move lên và xuống có khoảng cách bằng nhau, probability này phần lớn thời gian dao động quanh 50%, nghĩa là có xác suất 50–50 rằng thị trường sẽ tăng X tick trước khi giảm X tick, và xác suất 50–50 rằng thị trường sẽ giảm X tick trước khi tăng X tick.

doji Một candle có body nhỏ hoặc hoàn toàn không có body. Trên chart 5 minute, body chỉ khoảng một hoặc hai tick; nhưng trên daily chart, body có thể là 10 tick trở lên mà trông vẫn gần như không tồn tại. Cả bull lẫn bear đều không kiểm soát bar đó. Mọi bar đều là trend bar hoặc nontrend bar, và những nontrend bar ấy được gọi là doji.

double bottom Một chart formation trong đó low của bar hiện tại xấp xỉ low của một swing low trước đó. Low trước đó có thể chỉ cách một bar hoặc cách từ 20 bar trở lên. Nó không nhất thiết phải nằm ở low of the day và thường hình thành trong bull flag, tạo thành một double bottom bull flag.

double bottom bull flag Một nhịp pause hoặc bull flag trong bull trend, có hai spike đi xuống quanh cùng một mức giá rồi reversal trở lại thành bull trend.

double bottom pullback Một buy setup gồm một double bottom, sau đó là một pullback sâu tạo thành higher low.

double top Một chart formation trong đó high của bar hiện tại xấp xỉ high của một swing high trước đó. High trước đó có thể chỉ cách một bar hoặc cách từ 20 bar trở lên. Nó không nhất thiết phải nằm ở high of the day và thường hình thành trong bear flag, tạo thành một double top bear flag.

double top bear flag Một nhịp pause hoặc bear flag trong bear trend, có hai spike đi lên quanh cùng một mức giá rồi reversal trở lại thành bear trend.

double top pullback Một sell setup gồm một double top, sau đó là một pullback sâu tạo thành lower high.

early longs Những trader buy khi bull signal bar vẫn đang hình thành, thay vì chờ bar đóng rồi entry bằng buy stop cao hơn high của bar đó một tick.

early shorts Những trader sell khi bear signal bar vẫn đang hình thành, thay vì chờ bar đóng rồi entry bằng sell stop thấp hơn low của bar đó một tick.

edge Một setup có trader’s equation dương. Trader có lợi thế về mặt toán học nếu trade setup đó. Edge luôn nhỏ và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn vì mỗi trade đều cần có người ở phía đối diện, trong khi thị trường có rất nhiều trader thông minh không cho phép một edge lớn tồn tại lâu dài.

EMA Xem exponential moving average (EMA).

entry bar Bar mà trong thời gian hình thành nó, một trade được entry.

exponential moving average (EMA) Các chart trong những cuốn sách này sử dụng exponential moving average 20 bar, nhưng bất kỳ moving average nào cũng có thể hữu ích.

fade Đặt một trade ngược hướng trend; ví dụ, sell một bull breakout mà bạn kỳ vọng sẽ thất bại và reversal đi xuống.

failed failure Một failure tiếp tục thất bại, khiến giá tiếp diễn theo hướng của breakout ban đầu và do đó trở thành breakout pullback. Vì đây là second signal nên nó đáng tin cậy hơn. Ví dụ, nếu có breakout lên trên một trading range và bar sau breakout là bear reversal bar, breakout đã thất bại nếu thị trường trade xuống dưới bar đó. Nếu trong vài bar tiếp theo, thị trường trade lên trên high của một bar trước đó, failed breakout đã thất bại và breakout lúc này đang tiếp diễn. Điều đó có nghĩa failed breakout đã trở thành một bull flag nhỏ và chỉ là một pullback từ breakout.

failure (một failed move) Một move mà protective stop bị hit trước khi scalper’s profit được bảo đảm hoặc trước khi trader đạt được mục tiêu; điều này thường dẫn đến một move theo hướng ngược lại vì các trader bị trapped buộc phải exit với loss. Hiện nay, mục tiêu bốn tick của một scalper trên Emini thường đòi hỏi một move sáu tick, còn mục tiêu 10 tick trên QQQQ thường đòi hỏi một move 12 cent.

false Failed, failure.

five-tick failure Một trade trên Emini đi được năm tick vượt ra ngoài signal bar rồi reversal. Ví dụ, breakout của một bull flag chạy được năm tick, và sau khi bar đóng, bar kế tiếp có low thấp hơn. Phần lớn limit order nhằm chốt profit một point sẽ không được fill, vì một move thường phải đi vượt quá order một tick thì order mới được fill. Đây thường là setup cho một trade theo hướng ngược lại.

flat Chỉ một trader hiện không nắm giữ bất kỳ position nào.

follow-through Sau move ban đầu, chẳng hạn breakout, đây là một hoặc nhiều bar kéo dài move đó. Trader muốn thấy follow-through ở bar kế tiếp và vài bar sau nữa, với hy vọng hình thành trend để họ có thể kiếm nhiều profit hơn.

follow-through bar Một bar tạo ra follow-through sau entry bar; nó thường là bar kế tiếp nhưng đôi khi hình thành muộn hơn một vài bar.

fractal Mọi pattern đều là fractal của một pattern trên chart có higher time frame. Điều đó có nghĩa mọi pattern đều là micro pattern trên higher time frame, và mọi micro pattern đều là pattern tiêu chuẩn trên smaller time frame.

gap Khoảng trống giữa hai price bar bất kỳ trên chart. Opening gap là hiện tượng phổ biến và xuất hiện khi open của bar đầu tiên hôm nay nằm ngoài high hoặc low của bar trước đó, tức bar cuối cùng hôm qua, hoặc nằm ngoài high hay low của cả ngày hôm qua. Moving average gap xuất hiện khi low của một bar nằm trên một moving average đi ngang hoặc dốc xuống, hoặc high của một bar nằm dưới một moving average đi ngang hoặc dốc lên. Các gap truyền thống trên daily chart — breakout, measuring và exhaustion — có những dạng tương đương intraday dưới hình thức nhiều loại trend bar khác nhau.

gap bar Xem moving average gap bar.

gap reversal Một formation trong đó bar hiện tại đi ngược vào gap và vượt qua bar trước một tick. Ví dụ, nếu ngày mở cửa bằng một gap up và bar thứ hai trong ngày trade thấp hơn low của bar đầu tiên một tick, đây là một gap reversal.

HFT Xem high-frequency trading (HFT).

higher high Một swing high cao hơn swing high trước đó.

higher low Một swing low cao hơn swing low trước đó.

higher time frame (HTF) Một chart bao quát cùng khoảng thời gian với chart hiện tại nhưng có ít bar hơn. Ví dụ, so với day session chart Emini 5 minute trong một ngày trung bình, các higher time frame chart bao gồm chart 15 minute, tick chart có 25.000 tick mỗi bar và volume chart có 100.000 contract mỗi bar; mỗi chart này thường có dưới 30 bar trong một ngày trung bình, so với 81 bar trên chart 5 minute.

high-frequency trading (HFT) Còn được gọi là algorithmic trading hoặc black box trading, đây là một dạng program trading trong đó các công ty đặt hàng triệu order mỗi ngày trên hàng nghìn cổ phiếu để scalp những khoản profit nhỏ chỉ một cent; hoạt động trading dựa trên phân tích thống kê thay vì fundamentals.

high/low 1 or 2 Hoặc high 1 hay high 2, hoặc low 1 hay low 2.

high 1, 2, 3, or 4 High 1 là một bar có high cao hơn bar trước trong bull flag hoặc gần đáy trading range. Nếu sau đó xuất hiện một bar có lower high — có thể xảy ra sau một hoặc vài bar — thì bar kế tiếp trong correction này có high cao hơn high của bar trước là high 2. Lần xuất hiện thứ ba và thứ tư lần lượt là high 3 và high 4. High 3 là một biến thể của wedge bull flag.

HTF Xem higher time frame (HTF).

ii Hai inside bar liên tiếp, trong đó bar thứ hai nằm trong bar thứ nhất. Ở cuối một leg, đây là breakout mode setup và có thể trở thành flag hoặc reversal setup. Một phiên bản kém tin cậy hơn là “bodies-only ii”, trong đó bạn bỏ qua các tail. Khi đó, body thứ hai nằm trong body thứ nhất, và body thứ nhất nằm trong body ngay trước nó.

iii Ba inside bar liên tiếp; đây là pattern đáng tin cậy hơn đôi chút so với ii.

inside bar Một bar có high bằng hoặc thấp hơn high của bar trước, đồng thời có low bằng hoặc cao hơn low của bar trước.

institution Còn được gọi là smart money, có thể là pension fund, hedge fund, insurance company, bank, broker, một cá nhân trading quy mô lớn hoặc bất kỳ tổ chức nào trade đủ volume để tác động tới thị trường. Chuyển động của thị trường là tác động tích lũy từ các trade của nhiều institution; một institution đơn lẻ thường không thể làm một thị trường lớn dịch chuyển lâu. Các institution truyền thống đặt trade dựa trên fundamentals và trước đây là yếu tố duy nhất quyết định hướng đi của thị trường. Tuy nhiên, các công ty HFT hiện có ảnh hưởng đáng kể tới chuyển động trong ngày vì hoạt động trading của họ hiện tạo ra phần lớn volume trong ngày. Công ty HFT là một loại institutional firm đặc biệt, trading dựa trên thống kê chứ không phải fundamentals. Các institution truyền thống quyết định hướng đi và target, còn các nhà toán học quyết định con đường thị trường đi để tới đó.

ioi Inside-outside-inside — ba bar liên tiếp, trong đó bar thứ hai là outside bar và bar thứ ba là inside bar. Đây thường là breakout mode setup, tại đó trader tìm cách buy phía trên inside bar hoặc sell phía dưới nó.

ledge Bull ledge là một trading range nhỏ có đáy được tạo bởi từ hai bar trở lên với low giống hệt nhau; bear ledge là một trading range nhỏ có đỉnh được tạo bởi từ hai bar trở lên với high giống hệt nhau.

leg Một trend nhỏ phá vỡ trend line ở bất kỳ quy mô nào; thuật ngữ này chỉ được dùng khi chart có ít nhất hai leg. Đó là bất kỳ trend nhỏ hơn nào thuộc một trend lớn hơn và có thể là pullback — một countertrend move — một swing trong trend hoặc sideways market, hay một with-trend move trong trend xảy ra giữa hai pullback bất kỳ của trend đó.

likely Mức độ chắc chắn ít nhất 60%.

long Một người buy một position trên thị trường, hoặc chính position đó.

lot Position size nhỏ nhất có thể được trade trên một thị trường. Với cổ phiếu, đó là một share; với Emini hoặc futures khác, đó là một contract.

lower high Một swing high thấp hơn swing high trước đó.

lower low Một swing low thấp hơn swing low trước đó.

low 1, 2, 3, or 4 Low 1 là một bar có low thấp hơn bar trước trong bear flag hoặc gần đỉnh trading range. Nếu sau đó xuất hiện một bar có higher low — có thể xảy ra sau một hoặc vài bar — thì bar kế tiếp trong correction này có low thấp hơn low của bar trước là low 2. Lần xuất hiện thứ ba và thứ tư lần lượt là low 3 và low 4. Low 3 là một biến thể của wedge bear flag.

major trend line Bất kỳ trend line nào bao quát phần lớn price action trên màn hình và thường được vẽ bằng các bar cách nhau ít nhất 10 bar.

major trend reversal Reversal từ bull trend sang bear trend hoặc từ bear trend sang bull trend. Setup phải bao gồm một lần test cực trị của trend cũ sau khi trend line bị phá vỡ.

meltdown Một đợt sell-off trong bear spike hoặc tight bear channel, không có pullback đáng kể và kéo dài xa hơn mức fundamentals có thể lý giải.

melt-up Một đợt rally trong bull spike hoặc tight bull channel, không có pullback đáng kể và kéo dài xa hơn mức fundamentals có thể lý giải.

micro Bất kỳ pattern truyền thống nào cũng có thể hình thành trong khoảng một đến năm bar mà vẫn hợp lệ, dù rất dễ bị bỏ qua. Khi đó, nó là phiên bản micro của pattern. Mọi micro pattern đều là pattern truyền thống trên smaller time frame chart, và mọi pattern truyền thống đều là micro pattern trên higher time frame chart.

micro channel Một channel rất chặt, trong đó high và low của phần lớn bar chạm trend line và thường cũng chạm trend channel line. Đây là dạng cực đoan nhất của tight channel, không có pullback hoặc chỉ có một hay hai pullback nhỏ.

micro double bottom Các bar liên tiếp hoặc gần như liên tiếp có low quanh cùng một mức giá.

micro double top Các bar liên tiếp hoặc gần như liên tiếp có high quanh cùng một mức giá.

micro measuring gap Khi bar trước và bar sau một trend bar mạnh không chồng lấn nhau, đó là dấu hiệu sức mạnh và thường dẫn tới measured move. Ví dụ, nếu có một bull trend bar mạnh và low của bar sau nó bằng hoặc cao hơn high của bar trước nó, midpoint giữa low và high đó chính là micro measuring gap.

micro trend channel line Một trend channel line được vẽ qua high hoặc low của ba đến năm bar liên tiếp.

micro trend line breakout Một trend line trên bất kỳ time frame nào, được vẽ qua từ hai đến khoảng 10 bar mà phần lớn các bar chạm hoặc nằm gần trend line, sau đó một bar tạo false breakout xuyên qua trend line. False breakout này tạo setup cho một with-trend entry. Nếu nó thất bại trong vòng một hoặc hai bar, thường sẽ có một countertrend trade.

money stop Một stop dựa trên số tiền cố định hoặc số point cố định, chẳng hạn hai point trên Emini hoặc một dollar ở một cổ phiếu.

moving average Các chart trong cuốn sách này sử dụng exponential moving average 20 bar, nhưng bất kỳ moving average nào cũng có thể hữu ích.

moving average gap bar (hay gap bar) Một bar không chạm moving average. Khoảng trống giữa bar và moving average là gap. Pullback đầu tiên trong một trend mạnh tạo ra moving average gap bar thường được theo sau bởi một lần test cực trị của trend. Ví dụ, khi có một bull trend mạnh và một pullback cuối cùng tạo ra bar có high nằm dưới moving average, đây thường là buy setup để test high của trend.

nesting Đôi khi một pattern có một phiên bản nhỏ hơn của pattern tương tự “lồng” bên trong nó. Ví dụ, vai phải của head and shoulders top thường là một head and shoulders top nhỏ hoặc một double top.

news Thông tin vô dụng do truyền thông tạo ra chỉ nhằm bán quảng cáo và kiếm tiền cho công ty truyền thông. Nó không liên quan tới trading, không thể đánh giá và luôn phải bị bỏ qua.

oio Outside-inside-outside: một outside bar, tiếp theo là inside bar, rồi đến một outside bar.

oo Outside-outside: một outside bar, tiếp theo là một outside bar lớn hơn.

opening reversal Một reversal trong khoảng một giờ đầu tiên của ngày.

outside bar Một bar có high cao hơn hoặc bằng high của bar trước và low thấp hơn low của bar trước; hoặc một bar có low thấp hơn hoặc bằng low của bar trước và high cao hơn high của bar trước.

outside down bar Một outside bar có close thấp hơn open.

outside up bar Một outside bar có close cao hơn open.

overshoot Thị trường vượt qua một mức giá quan trọng trước đó, chẳng hạn swing point hoặc trend line.

pause bar Một bar không kéo dài trend. Trong bull trend, pause bar có high bằng hoặc thấp hơn bar trước; hoặc đó là một bar nhỏ có high chỉ cao hơn bar trước khoảng một tick khi bar trước là một bull trend bar mạnh. Đây là một dạng pullback.

pip Một tick trên thị trường foreign exchange (forex). Tuy nhiên, một số data vendor cung cấp báo giá có thêm một chữ số thập phân và chữ số đó nên được bỏ qua.

pressing their longs Trong bull trend, các bull bổ sung vào long position của họ trong bull spike và khi thị trường breakout lên new high, vì họ kỳ vọng có thêm một leg up đi được khoảng một measured move.

pressing their shorts Trong bear trend, các bear bổ sung vào short position của họ trong bear spike và khi thị trường breakout xuống new low, vì họ kỳ vọng có thêm một leg down đi được khoảng một measured move.

price action Bất kỳ thay đổi nào về giá trên bất kỳ chart type hoặc time frame nào.

probability Xác suất thành công. Ví dụ, nếu một trader xem lại 100 lần gần nhất mà một setup nhất định dẫn đến trade và nhận thấy 60 lần trong số đó tạo ra trade có profit, điều này cho thấy setup có probability thành công khoảng 60%. Có nhiều biến số không bao giờ có thể được kiểm định đầy đủ, vì vậy probability chỉ là giá trị xấp xỉ và đôi lúc có thể gây hiểu lầm nghiêm trọng.

probably Mức độ chắc chắn ít nhất 60%.

pullback Một nhịp pause tạm thời hoặc countertrend move thuộc một trend, swing hay leg và không retrace quá điểm bắt đầu của trend, swing hoặc leg đó. Đây là một trading range nhỏ mà trader kỳ vọng trend sẽ sớm tiếp diễn. Ví dụ, bear pullback là một move đi ngang hoặc đi lên trong bear trend, swing hay leg, sau đó ít nhất sẽ có một lần test low trước đó. Nó có thể nhỏ tới mức chỉ đi cao hơn high của bar trước một tick, hoặc thậm chí chỉ là một pause như inside bar.

pullback bar Một bar đảo chiều so với bar trước ít nhất một tick. Trong uptrend, đó là một bar có low thấp hơn low của bar trước.

reasonable Một setup có trader’s equation thuận lợi.

reversal Sự chuyển đổi sang một kiểu hành vi đối lập. Phần lớn technician dùng thuật ngữ này để chỉ sự thay đổi từ bull trend sang bear trend hoặc từ bear trend sang bull trend. Tuy nhiên, hành vi trading range đối lập với hành vi trending, vì vậy khi trend biến thành trading range, đó cũng là reversal. Khi trading range biến thành trend, đó là reversal nhưng thường được gọi là breakout.

reversal bar Một trend bar đi ngược hướng trend. Khi bear leg đang reversal lên, bull reversal bar là một bull trend bar; mô tả kinh điển gồm tail ở đáy và close cao hơn open, gần high. Bear reversal bar là một bear trend bar trong bull leg; mô tả truyền thống gồm tail ở đỉnh và close thấp hơn open, gần low.

reward Số tick mà trader kỳ vọng kiếm được từ một trade. Ví dụ, nếu trader exit bằng limit order tại profit target, reward là số tick giữa entry price và profit target.

risk Số tick từ entry price của trader tới protective stop. Đây là khoản tối thiểu trader sẽ mất nếu trade đi ngược dự đoán; slippage và các yếu tố khác có thể khiến risk thực tế lớn hơn risk lý thuyết.

risk off Khi trader cho rằng thị trường cổ phiếu sẽ giảm, họ trở nên ngại risk, bán các cổ phiếu và tiền tệ có volatility cao rồi chuyển sang các safe-haven investment như Johnson & Johnson (JNJ), Altria Group (MO), Procter & Gamble (PG), U.S. dollar và Swiss franc.

risk on Khi trader cho rằng thị trường cổ phiếu mạnh, họ sẵn sàng chấp nhận nhiều risk hơn và đầu tư vào những cổ phiếu có xu hướng tăng nhanh hơn toàn thị trường, cũng như những đồng tiền có volatility cao hơn như Australian dollar hoặc Swedish krona.

risky Khi trader’s equation không rõ ràng hoặc chỉ vừa đủ thuận lợi cho một trade. Thuật ngữ này cũng có thể có nghĩa probability thành công của trade là 50% hoặc thấp hơn, bất kể risk và potential reward.

scalp Một trade được exit với profit nhỏ, thường là trước khi xuất hiện bất kỳ pullback nào. Trên Emini, khi average range khoảng 10 đến 15 point, scalp trade thường là bất kỳ trade nào có mục tiêu dưới bốn point. Với SPY hoặc cổ phiếu, mục tiêu có thể là 10 đến 30 cent. Với cổ phiếu đắt tiền hơn, mục tiêu có thể là $1 đến $2. Vì profit thường nhỏ hơn risk, trader phải thắng ít nhất 70% số lần — một mục tiêu không thực tế với phần lớn trader. Trader chỉ nên thực hiện những trade có potential reward ít nhất bằng risk, trừ khi họ có kỹ năng đặc biệt xuất sắc.

scalper Một trader chủ yếu scalp để kiếm profit nhỏ, thường sử dụng tight stop.

scalper’s profit Mức profit điển hình mà một scalper nhắm tới.

scratch Một trade gần breakeven, có profit hoặc loss nhỏ.

second entry Lần thứ hai, trong vòng vài bar kể từ entry đầu tiên, xuất hiện một entry bar dựa trên cùng logic với entry đầu tiên. Ví dụ, nếu breakout lên trên wedge bull flag thất bại và pullback về một double bottom bull flag, pullback này tạo second buy signal cho wedge bull flag.

second moving average gap bar setup Nếu có moving average gap bar đầu tiên và một reversal về phía moving average không chạm được moving average, thay vào đó move rời xa moving average tiếp tục, thì đây là reversal kế tiếp theo hướng moving average.

second signal Lần thứ hai, trong vòng vài bar kể từ signal đầu tiên, xuất hiện một setup dựa trên cùng logic với signal đầu tiên.

selling pressure Những bear mạnh đang khẳng định ưu thế, và hoạt động selling của họ tạo ra các bear trend bar, các bar có tail ở đỉnh và các two-bar bear reversal. Tác động này mang tính tích lũy và cuối cùng thường dẫn đến giá thấp hơn.

setup Một pattern gồm một hoặc nhiều bar được trader dùng làm cơ sở để đặt entry order. Nếu một entry order được fill, bar cuối cùng của setup trở thành signal bar. Phần lớn setup chỉ gồm một bar.

shaved body Một candle không có tail ở một đầu hoặc cả hai đầu. Shaved top không có tail ở đỉnh và shaved bottom không có tail ở đáy.

short Khi là động từ, thuật ngữ này nghĩa là sell một cổ phiếu hoặc futures contract để khởi tạo position mới, không phải để exit một giao dịch buy trước đó. Khi là danh từ, nó chỉ người short một tài sản hoặc chính short position đó.

shrinking stairs Một stairs pattern trong đó breakout gần nhất nhỏ hơn breakout trước. Đây là chuỗi gồm từ ba trending high trở lên trong bull trend hoặc từ ba trending low trở lên trong bear trend, trong đó mỗi breakout tới cực trị mới có số tick ít hơn breakout trước, cho thấy momentum đang suy yếu. Nó có thể là three-push pattern nhưng không nhất thiết phải giống wedge và có thể là bất kỳ chuỗi broad swing nào trong trend.

signal bar Bar ngay trước bar mà entry order được fill, tức entry bar. Đây là bar cuối cùng của setup.

smaller time frame (STF) Một chart bao quát cùng khoảng thời gian với chart hiện tại nhưng có nhiều bar hơn. Ví dụ, so với day session chart Emini 5 minute trong một ngày trung bình, các smaller time frame chart bao gồm chart 1 minute, tick chart có 500 tick mỗi bar và volume chart có 1.000 contract mỗi bar; mỗi chart này thường có hơn 200 bar trong một ngày trung bình, so với 81 bar trên chart 5 minute.

smart traders Những trader có profit ổn định, thường trade position lớn và nhìn chung đứng đúng phía của thị trường.

spike and channel Một breakout hình thành trend, trong đó follow-through diễn ra dưới dạng channel có momentum thấp hơn và đang xảy ra two-sided trading.

stair Một push tới cực trị mới trong trending trading range trend hoặc broad channel trend, nơi có một chuỗi từ ba trending swing trở lên trông giống một trading range nghiêng và gần như được giới hạn trong channel. Sau breakout có một breakout pullback retrace ít nhất một phần nhỏ vào trading range trước đó; đây không phải điều kiện bắt buộc ở các trending trading range khác. Two-way trading đang diễn ra, nhưng một phía kiểm soát nhỉnh hơn đôi chút, tạo nên độ dốc.

STF Xem smaller time frame (STF).

strong bulls and bears Các institutional trader cùng hoạt động buying và selling tích lũy của họ quyết định hướng đi của thị trường.

success Chỉ việc trader đạt được mục tiêu. Profit target của họ được chạm trước khi protective stop bị hit.

swing Một trend nhỏ phá vỡ trend line ở bất kỳ quy mô nào; thuật ngữ này chỉ được dùng khi chart có ít nhất hai swing. Swing có thể xuất hiện trong một trend lớn hơn hoặc trong sideways market.

swing high Một bar trông giống spike up trên chart và vươn lên vượt các bar lân cận. High của nó bằng hoặc cao hơn high của bar trước và bar sau.

swing high/low Hoặc swing high, hoặc swing low.

swing low Một bar trông giống spike down trên chart và vươn xuống dưới các bar lân cận. Low của nó bằng hoặc thấp hơn low của bar trước và bar sau.

swing point Hoặc swing high, hoặc swing low.

swing trade Với day trader sử dụng intraday chart ngắn hạn như chart 5 minute, đây là bất kỳ trade nào kéo dài hơn một scalp và được trader giữ qua một hoặc nhiều pullback. Với trader sử dụng higher time frame chart, đó là trade kéo dài từ vài giờ đến vài ngày. Thông thường, ít nhất một phần của trade được giữ mà không đặt profit target vì trader kỳ vọng một move kéo dài. Potential reward thường ít nhất bằng risk. Nhiều trader gọi những swing trade nhỏ là scalp. Trên Emini, khi average range khoảng 10 đến 15 point, swing trade thường là bất kỳ trade nào có mục tiêu từ bốn point trở lên.

test Khi thị trường tiến gần một mức giá quan trọng trước đó và có thể overshoot hoặc undershoot target. Các trader khác nhau dùng thuật ngữ failed test với ý nghĩa trái ngược nhau. Phần lớn trader cho rằng nếu sau đó thị trường reversal thì test đã thành công; còn nếu thị trường không reversal và move tiếp tục vượt ra ngoài vùng test, test đã thất bại và breakout đã xảy ra.

three pushes Ba swing high, trong đó mỗi swing high thường cao hơn swing trước, hoặc ba swing low, trong đó mỗi swing low thường thấp hơn swing trước. Pattern này được trade giống wedge và nên được xem là một biến thể của wedge. Khi là một phần của flag, move có thể chủ yếu đi ngang và mỗi push không nhất thiết phải vượt push trước. Ví dụ, trong wedge bull flag hoặc bất kỳ loại triangle nào khác, push down thứ hai có thể bằng, cao hơn hoặc thấp hơn push thứ nhất; push down thứ ba có thể bằng, cao hơn hoặc thấp hơn push thứ hai, push thứ nhất hoặc cả hai.

tick Đơn vị biến động giá nhỏ nhất. Với phần lớn cổ phiếu, đó là một penny; với 10-Year U.S. Treasury Note Futures, đó là 1/64 point; với Emini, đó là 0,25 point. Trên tick chart và bảng time and sales, một tick là mọi trade diễn ra, bất kể size và ngay cả khi giá không thay đổi. Khi bạn xem bảng time and sales, phần mềm charting TradeStation tính mỗi trade là một tick khi tạo tick chart.

tight channel Một channel có trend line và trend channel line nằm gần nhau, còn các pullback nhỏ và chỉ kéo dài từ một đến ba bar.

tight trading range Một trading range gồm từ hai bar trở lên với các bar chồng lấn nhiều, trong đó phần lớn reversal quá nhỏ để có thể trade sinh lời bằng stop entry. Bull và bear đang cân bằng.

time frame Khoảng thời gian chứa trong một bar trên chart; time frame 5 minute gồm các bar đóng sau mỗi năm phút. Thuật ngữ này cũng có thể chỉ những bar không dựa trên thời gian, chẳng hạn bar dựa trên volume hoặc số tick được trade.

tradable Một setup mà bạn tin có khả năng hợp lý để ít nhất tạo ra scalper’s profit.

trader’s equation Để thực hiện một trade, bạn phải tin rằng probability thành công nhân với potential reward lớn hơn probability thất bại nhân với risk. Bạn xác định reward và risk vì potential reward là khoảng cách tới profit target, còn risk là khoảng cách tới stop. Khó khăn khi giải phương trình nằm ở việc gán giá trị cho probability, vốn không bao giờ có thể được biết chắc chắn. Theo nguyên tắc hướng dẫn, nếu không chắc chắn, hãy giả định bạn có 50% khả năng thắng và 50% khả năng thua; nếu tự tin, hãy giả định bạn có 60% khả năng thắng và 40% khả năng thua.

trading range Yêu cầu tối thiểu là một bar có range phần lớn bị bar trước đó chồng lấn. Đây là chuyển động sideways và cả bull lẫn bear đều không kiểm soát, dù một phía thường mạnh hơn. Nó thường là pullback trong trend đã kéo dài đủ lâu để mất đi phần lớn tính chắc chắn. Nói cách khác, trader trở nên thiếu chắc chắn về hướng breakout trong ngắn hạn, và thị trường sẽ liên tục thử breakout lên và xuống nhưng đều thất bại. Cuối cùng, thị trường thường breakout theo hướng trend và đây là pullback trên higher time frame chart.

trailing a stop Khi trade ngày càng có nhiều profit, trader thường di chuyển, hay trail, protective stop để bảo vệ phần open profit lớn hơn. Ví dụ, nếu họ đang long trong bull trend, mỗi khi thị trường lên new high, họ có thể nâng protective stop lên ngay dưới higher low gần nhất.

trap Một entry lập tức reversal sang hướng ngược lại trước khi đạt scalper’s profit target, khiến trader mắc kẹt trong position mới và cuối cùng buộc phải cover với loss. Trap cũng có thể khiến trader sợ hãi mà thoát khỏi một trade tốt.

trapped in a trade Một trader đang có open loss ở một trade không tạo ra scalper’s profit; nếu có pullback vượt quá entry bar hoặc signal bar, trader có khả năng sẽ exit với loss.

trapped out of a trade Một pullback khiến trader sợ hãi và exit khỏi trade, nhưng sau đó pullback thất bại. Move nhanh chóng tiếp diễn theo hướng trade, khiến trader gặp khó khăn về tâm lý khi phải entry lại ở mức giá bất lợi hơn hiện có. Trader sẽ phải chase thị trường.

trend Một chuỗi thay đổi giá chủ yếu đi lên — bull trend — hoặc đi xuống — bear trend. Có ba phiên bản nhỏ hơn được định nghĩa tương đối linh hoạt: swing, leg và pullback. Một chart chỉ thể hiện một hoặc hai major trend. Nếu có nhiều hơn, dùng một trong các thuật ngữ còn lại sẽ phù hợp hơn.

trend bar Một bar có body, nghĩa là close cao hơn hoặc thấp hơn open, cho thấy có ít nhất một biến động giá nhỏ.

trend channel line Một đường đi theo hướng trend nhưng được vẽ ở phía đối diện của các bar so với trend line. Bull trend channel line nằm phía trên các high và dốc lên về bên phải; bear trend channel line nằm phía dưới các low và dốc xuống về bên phải.

trend channel line overshoot Một hoặc nhiều bar xuyên qua trend channel line.

trend channel line undershoot Một bar tiến gần trend channel line nhưng thị trường reversal rời khỏi đường này mà không chạm hoặc xuyên qua nó.

trend from the open Một trend bắt đầu từ bar đầu tiên hoặc một trong những bar đầu tiên của ngày và kéo dài nhiều bar mà không có pullback; điểm bắt đầu trend vẫn là một trong các cực trị của ngày trong phần lớn thời gian, nếu không phải cả ngày.

trending closes Từ ba bar trở lên có close diễn biến theo trend. Trong bull trend, mỗi close cao hơn close trước; trong bear trend, mỗi close thấp hơn close trước. Nếu pattern kéo dài nhiều bar, có thể có một hoặc hai bar mà close không diễn biến theo trend.

trending highs or lows Giống trending closes nhưng dựa trên high hoặc low của các bar.

trending swings Từ ba swing trở lên, trong đó cả swing high lẫn swing low đều cao hơn swing high và swing low trước đó — trending bull swings — hoặc cả hai đều thấp hơn — trending bear swings.

trending trading ranges Từ hai trading range trở lên được ngăn cách bởi một breakout.

trend line Một đường được vẽ theo hướng trend; nó dốc lên và nằm dưới các bar trong bull trend, còn trong bear trend, nó dốc xuống và nằm trên các bar. Thông thường nhất, trend line được dựng từ swing high hoặc swing low, nhưng cũng có thể dựa trên linear regression hoặc chỉ đơn giản là đường khớp tốt nhất bằng cách ước lượng trực quan.

trend reversal Sự thay đổi trend từ lên sang xuống hoặc từ xuống sang lên, hay từ trend sang trading range.

20 moving average gap bars Từ 20 bar liên tiếp trở lên không chạm moving average. Khi cuối cùng thị trường chạm moving average, nó thường tạo setup cho một lần test cực trị của trend.

undershoot Thị trường tiến gần nhưng không chạm một mức giá quan trọng trước đó, chẳng hạn swing point hoặc trend line.

unlikely Mức độ chắc chắn tối đa 40%.

unreasonable Một setup có trader’s equation bất lợi.

usually Mức độ chắc chắn ít nhất 60%.

vacuum Buy vacuum xuất hiện khi những bear mạnh tin rằng giá sẽ sớm cao hơn, nên họ chờ đến khi giá chạm một magnet phía trên thị trường mới short. Kết quả là xuất hiện một vacuum hút thị trường tăng nhanh tới magnet dưới dạng một hoặc nhiều bull trend bar. Khi tới đó, những bear mạnh sell quyết liệt và khiến thị trường quay đầu đi xuống. Sell vacuum xuất hiện khi những bull mạnh tin rằng thị trường sẽ sớm thấp hơn, nên họ chờ đến khi giá giảm tới một magnet phía dưới thị trường mới buy. Kết quả là xuất hiện một vacuum hút thị trường giảm nhanh tới magnet dưới dạng một hoặc nhiều bear trend bar. Khi tới đó, những bull mạnh buy quyết liệt và khiến thị trường quay đầu tăng trở lại.

wedge Theo định nghĩa truyền thống, đây là một move có three pushes, mỗi push đi xa hơn, còn trend line và trend channel line ít nhất hội tụ nhẹ, tạo thành rising triangle hoặc descending triangle có hình wedge. Đối với trader, hình dạng wedge làm tăng khả năng trade thành công, nhưng bất kỳ three-push pattern nào cũng được trade giống wedge và có thể được xem là wedge. Wedge có thể là reversal pattern hoặc pullback trong trend, tức bull flag hoặc bear flag.

wedge flag Một pullback có hình wedge hoặc three pushes trong trend, chẳng hạn high 3 trong bull trend — một dạng bull flag — hoặc low 3 trong bear trend — một dạng bear flag. Vì đây là with-trend setup, hãy entry ở signal đầu tiên.

wedge reversal Một wedge đang reversal bull trend thành bear trend hoặc bear trend thành bull trend. Vì đây là countertrend, trừ khi nó rất mạnh, tốt hơn nên thực hiện second signal. Ví dụ, nếu có bear trend rồi xuất hiện descending wedge, hãy chờ breakout lên trên potential wedge bottom này, sau đó tìm cách buy một pullback về higher low.

with trend Chỉ một trade hoặc setup đi theo hướng trend chi phối. Nói chung, hướng của signal gần nhất trên chart 5 minute nên được giả định là hướng của trend. Ngoài ra, nếu phần lớn 10 hoặc 20 bar vừa qua nằm trên moving average, các trend setup và trade nhiều khả năng thuộc phía buy.

Introduction

Có một lý do khiến chưa từng có cuốn sách toàn diện nào khác về price action được viết bởi một trader. Công việc này đòi hỏi hàng nghìn giờ, trong khi phần thưởng tài chính lại quá ít ỏi so với trading. Tuy nhiên, giờ đây cả ba cô con gái của tôi đều đã rời nhà để học cao học, tôi có một khoảng trống cần lấp đầy, và đây là một dự án mang lại cho tôi rất nhiều sự mãn nguyện. Ban đầu, tôi dự định cập nhật ấn bản đầu tiên của Reading Price Charts Bar by Bar (John Wiley & Sons, 2009), nhưng khi bắt tay vào làm, tôi lại quyết định trình bày thật chi tiết cách mình nhìn nhận và giao dịch trên các thị trường. Nói một cách ẩn dụ, tôi đang dạy bạn chơi violin. Mọi thứ bạn cần biết để có thể kiếm sống bằng nghề này đều nằm trong những cuốn sách này, nhưng chính bạn phải dành vô số giờ để học nghề. Sau một năm trả lời hàng nghìn câu hỏi của các trader trên website www.brookspriceaction.com, tôi nghĩ mình đã tìm ra những cách diễn đạt ý tưởng rõ ràng hơn nhiều, và những cuốn sách này hẳn sẽ dễ đọc hơn cuốn trước. Cuốn sách trước tập trung vào việc đọc price action, còn loạt sách này tập trung vào cách sử dụng price action để giao dịch trên các thị trường. Vì bản thảo dài gấp hơn bốn lần cuốn đầu tiên, John Wiley & Sons quyết định chia nó thành ba cuốn riêng biệt. Cuốn đầu tiên này trình bày những kiến thức cơ bản về price action và trend. Cuốn thứ hai nói về trading range, quản lý lệnh và toán học trong trading; cuốn cuối cùng nói về trend reversal, day trading, daily chart, options và những setup tốt nhất cho mọi time frame. Nhiều chart cũng đã xuất hiện trong Reading Price Charts Bar by Bar, nhưng phần lớn đã được cập nhật và phần thảo luận về các chart cũng được viết lại đáng kể. Chỉ khoảng 5 phần trăm trong số 120.000 từ của cuốn sách đó xuất hiện trong 570.000 từ của loạt sách mới này, nên độc giả sẽ thấy rất ít nội dung trùng lặp.

Mục tiêu của tôi khi viết loạt ba cuốn sách này là mô tả hiểu biết của mình về lý do tại sao những giao dịch được lựa chọn kỹ lưỡng lại mang đến risk/reward ratio rất tốt, đồng thời trình bày những cách kiếm lợi nhuận từ các setup. Tôi giới thiệu những nội dung mà tôi hy vọng sẽ gây hứng thú cho các trader chuyên nghiệp và sinh viên trường kinh doanh, nhưng tôi cũng mong rằng ngay cả những trader mới bắt đầu cũng sẽ tìm thấy một số ý tưởng hữu ích. Ai cũng nhìn vào price chart, nhưng thường chỉ nhìn thoáng qua và với một mục tiêu cụ thể hoặc hạn hẹp. Tuy nhiên, mỗi chart đều chứa một lượng thông tin đáng kinh ngạc có thể dùng để thực hiện các giao dịch có lợi nhuận; nhưng phần lớn thông tin ấy chỉ có thể được sử dụng hiệu quả nếu trader dành thời gian tìm hiểu kỹ xem từng bar trên chart đang nói gì với họ về những việc dòng tiền institution đang làm.

Từ 90 phần trăm trở lên trong tổng khối lượng giao dịch ở các thị trường lớn được thực hiện bởi các institution, nghĩa là thị trường đơn giản chỉ là một tập hợp các institution. Hầu như tất cả đều có lợi nhuận theo thời gian, còn số ít không có lợi nhuận sẽ sớm phải rời bỏ cuộc chơi. Vì các institution có lợi nhuận và chính họ tạo thành thị trường, nên trong mọi giao dịch bạn thực hiện, phía đối diện luôn có một trader có lợi nhuận (một phần trong tập hợp các institution). Không giao dịch nào có thể diễn ra nếu không có một institution sẵn sàng đứng về một phía và một institution khác sẵn sàng đứng về phía đối diện. Những giao dịch có volume nhỏ của cá nhân chỉ có thể diễn ra nếu một institution sẵn sàng thực hiện cùng giao dịch đó. Nếu bạn muốn mua tại một mức giá nhất định, thị trường sẽ không đi đến mức giá đó trừ khi một hoặc nhiều institution cũng muốn mua ở đó. Bạn không thể bán tại bất kỳ mức giá nào trừ khi một hoặc nhiều institution sẵn sàng bán ở đó, bởi thị trường chỉ có thể đi đến một mức giá mà tại đó có các institution sẵn sàng mua và những institution khác sẵn sàng bán. Nếu Emini đang ở 1.264 và bạn đang long với protective sell stop tại 1.262, stop của bạn không thể bị hit trừ khi có một institution cũng sẵn sàng bán tại 1.262. Điều này đúng với gần như mọi giao dịch.

Nếu giao dịch 200 Emini contract, bạn đang giao dịch với institutional volume và trên thực tế chính là một institution; đôi khi bạn có thể khiến thị trường dịch chuyển một hoặc hai tick. Tuy nhiên, phần lớn trader cá nhân không có khả năng làm thị trường dịch chuyển, bất kể họ sẵn sàng giao dịch ngu ngốc đến mức nào. Thị trường sẽ không săn stop của bạn. Thị trường có thể test mức giá đặt protective stop của bạn, nhưng việc đó không liên quan gì đến stop của bạn. Nó chỉ test mức giá ấy nếu một hoặc nhiều institution tin rằng bán tại đó là hợp lý về mặt tài chính, còn các institution khác tin rằng mua tại đó sẽ có lợi nhuận. Ở mỗi tick đều có những institution mua và những institution khác bán, và tất cả đều có các system đã được chứng minh là sẽ kiếm được tiền khi thực hiện những giao dịch đó. Bạn luôn nên giao dịch theo hướng của phần lớn dòng tiền institution vì họ kiểm soát hướng đi của thị trường.

Vào cuối ngày, khi nhìn vào bản in chart trong ngày, làm thế nào bạn biết các institution đã làm gì? Câu trả lời rất đơn giản: bất cứ khi nào thị trường đi lên, phần lớn dòng tiền institution đang mua; và bất cứ khi nào thị trường đi xuống, lượng tiền tham gia bán nhiều hơn. Chỉ cần nhìn vào bất kỳ đoạn chart nào mà thị trường đi lên hoặc đi xuống rồi nghiên cứu từng bar, bạn sẽ sớm nhận ra nhiều pattern lặp lại. Theo thời gian, bạn sẽ bắt đầu thấy những pattern đó hình thành trong real time, và điều này sẽ cho bạn sự tự tin để vào lệnh. Một số price action khá tinh tế, vì vậy hãy cởi mở với mọi khả năng. Ví dụ, đôi khi trong lúc thị trường đang nhích lên, một bar sẽ giao dịch dưới low của bar trước, nhưng trend vẫn tiếp tục đi lên. Bạn phải giả định rằng dòng tiền lớn đã mua tại và bên dưới low của bar trước đó, và đây cũng là điều nhiều trader giàu kinh nghiệm đã làm. Họ mua đúng tại nơi các trader yếu để mình bị stop out với một khoản lỗ, hoặc nơi những trader yếu khác short vì tin rằng thị trường đang bắt đầu sell-off. Một khi cảm thấy thoải mái với ý tưởng rằng các trend mạnh thường có pullback và dòng tiền lớn đang mua các pullback đó thay vì bán, bạn sẽ có thể thực hiện một số giao dịch tuyệt vời mà trước đây bạn từng cho là hoàn toàn sai lầm. Đừng suy nghĩ quá phức tạp. Nếu thị trường đang đi lên, các institution liên tục mua, kể cả vào những lúc bạn nghĩ mình nên stop out vị thế long với một khoản lỗ. Công việc của bạn là đi theo hành vi của họ, chứ không phải dùng quá nhiều logic để phủ nhận điều đang diễn ra ngay trước mắt. Nó có vẻ trái với trực giác hay không không quan trọng. Điều duy nhất quan trọng là thị trường đang đi lên, vì vậy các institution chủ yếu đang mua, và bạn cũng nên làm như vậy.

Các institution thường được xem là smart money, nghĩa là họ đủ thông minh để kiếm sống bằng trading và mỗi ngày đều giao dịch volume lớn. Truyền hình vẫn dùng từ institution để chỉ các institution truyền thống như mutual fund, ngân hàng, công ty môi giới, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và hedge fund; trước đây những công ty này chiếm phần lớn volume và họ chủ yếu giao dịch dựa trên fundamentals. Hoạt động giao dịch của họ kiểm soát hướng thị trường trên daily chart và weekly chart, cũng như nhiều intraday swing lớn. Cho đến khoảng một thập kỷ trước, phần lớn quyết định giao dịch được đưa ra và phần lớn giao dịch được thực hiện bởi những trader rất thông minh, nhưng giờ đây công việc này ngày càng được máy tính đảm nhiệm. Họ có các chương trình có thể phân tích dữ liệu kinh tế ngay lập tức rồi lập tức vào lệnh dựa trên phân tích đó mà không cần bất kỳ con người nào tham gia vào giao dịch. Ngoài ra, những công ty khác giao dịch volume khổng lồ bằng các chương trình máy tính vào lệnh dựa trên phân tích thống kê về price action. Giao dịch do máy tính tạo ra hiện chiếm tới 70 phần trăm volume trong ngày.

Máy tính ra quyết định rất giỏi, trong khi chơi cờ vua và chiến thắng ở Jeopardy! còn khó hơn giao dịch cổ phiếu. Trong nhiều năm, Gary Kasparov đã đưa ra những quyết định cờ vua hay nhất thế giới, vậy mà năm 1997, một máy tính đã đưa ra những quyết định tốt hơn và đánh bại ông. Ken Jennings được ca ngợi là người chơi Jeopardy! vĩ đại nhất mọi thời đại, vậy mà một máy tính đã nghiền nát ông vào năm 2011. Chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi máy tính được công nhận rộng rãi là bên ra quyết định tốt nhất trong hoạt động giao dịch của institution.

Vì các chương trình sử dụng phân tích toán học khách quan, các vùng support và resistance sẽ có xu hướng được xác định rõ ràng hơn. Ví dụ, các dự phóng measured move sẽ trở nên chính xác hơn khi ngày càng nhiều volume được giao dịch dựa trên logic toán học chính xác. Ngoài ra, có thể xuất hiện xu hướng hình thành nhiều tight channel kéo dài hơn khi các chương trình mua những pullback nhỏ trên daily chart. Tuy nhiên, nếu đủ nhiều chương trình thoát long hoặc vào short tại cùng các key level, các đợt sell-off có thể trở nên lớn hơn và nhanh hơn. Những thay đổi này có kịch tính không? Có lẽ là không, vì các lực tổng quát tương tự đã vận hành từ thời mọi việc còn được làm thủ công; tuy vậy, khi ngày càng nhiều cảm xúc bị loại khỏi trading, thị trường hẳn vẫn sẽ có phần tiến gần hơn tới sự hoàn hảo về toán học. Khi những công ty khác này đóng góp ngày càng nhiều vào chuyển động của thị trường, và khi các institution truyền thống ngày càng dùng máy tính để phân tích và vào lệnh, thuật ngữ institution trở nên mơ hồ. Đối với một trader cá nhân, tốt hơn hết nên coi institution là bất kỳ thực thể nào trong số những thực thể khác nhau giao dịch volume đủ lớn để trở thành một bên đóng góp đáng kể vào price action.

Vì các chương trình mua và bán này tạo ra phần lớn volume, chúng là yếu tố đóng góp quan trọng nhất vào hình dạng của mọi chart và tạo ra phần lớn cơ hội giao dịch cho nhà đầu tư cá nhân. Đúng là biết Cisco Systems (CSCO) có báo cáo lợi nhuận khả quan và đang đi lên thì cũng tốt; nếu bạn là nhà đầu tư muốn nắm giữ cổ phiếu trong nhiều tháng, hãy làm điều các institution truyền thống đang làm và mua CSCO. Tuy nhiên, nếu bạn là day trader, hãy phớt lờ tin tức và nhìn vào chart, bởi các chương trình sẽ tạo ra những pattern hoàn toàn dựa trên thống kê và không liên quan gì đến fundamentals, nhưng vẫn mang lại những cơ hội giao dịch tuyệt vời. Các institution truyền thống vào lệnh dựa trên fundamentals sẽ quyết định hướng đi và target gần đúng của một cổ phiếu trong vài tháng tới; nhưng ngày càng nhiều công ty dùng phân tích thống kê để thực hiện day trade và các giao dịch ngắn hạn khác sẽ quyết định con đường đi đến target đó, cũng như đỉnh hoặc đáy cuối cùng của move. Ngay cả ở cấp độ vĩ mô, fundamentals nhiều nhất cũng chỉ cho kết quả gần đúng. Hãy nhìn các vụ crash năm 1987 và 2009. Cả hai đều có những đợt sell-off và rally dữ dội, nhưng fundamentals không thay đổi dữ dội trong cùng khoảng thời gian ngắn ấy. Trong cả hai trường hợp, thị trường bị hút xuống hơi thấp hơn monthly trend line rồi đảo chiều mạnh đi lên từ đó. Thị trường giảm vì fundamentals được nhận thức như thế nào, nhưng mức độ giảm lại do các chart quyết định.

Có một số pattern lớn lặp đi lặp lại trên mọi time frame và trong mọi thị trường, chẳng hạn như trend, trading range, climax và channel. Cũng có rất nhiều pattern nhỏ có thể giao dịch được chỉ dựa trên vài bar gần nhất. Những cuốn sách này là một cẩm nang toàn diện nhằm giúp trader hiểu mọi thứ họ nhìn thấy trên chart, từ đó có thêm cơ hội thực hiện các giao dịch có lợi nhuận và tránh các giao dịch thua lỗ.

Thông điệp quan trọng nhất mà tôi có thể gửi đến bạn là hãy tập trung vào những giao dịch tốt nhất tuyệt đối, tránh những setup tệ nhất tuyệt đối, sử dụng profit objective (reward) ít nhất phải lớn bằng protective stop (risk), và nỗ lực tăng số lượng cổ phiếu bạn giao dịch. Tôi hoàn toàn thừa nhận rằng mọi lý do tôi đưa ra đằng sau mỗi setup chỉ là ý kiến của riêng tôi, và lập luận của tôi về lý do một giao dịch có hiệu quả có thể hoàn toàn sai. Tuy nhiên, điều đó không liên quan. Điều quan trọng là đọc price action là một cách giao dịch rất hiệu quả, và tôi đã suy nghĩ rất nhiều về lý do vì sao một số sự việc lại diễn ra theo cách chúng diễn ra. Tôi cảm thấy thoải mái với những lời giải thích của mình và chúng mang lại cho tôi sự tự tin khi vào lệnh; tuy nhiên, chúng không liên quan đến việc tôi vào lệnh, vì vậy việc chúng đúng hay không không quan trọng với tôi. Cũng như tôi có thể lập tức đảo ngược quan điểm về hướng thị trường, tôi cũng có thể đảo ngược quan điểm về lý do một pattern cụ thể có hiệu quả nếu bắt gặp một lý do hợp lý hơn hoặc phát hiện ra một lỗ hổng trong logic của mình. Tôi đưa ra những quan điểm này vì chúng có vẻ hợp lý, có thể giúp độc giả cảm thấy thoải mái hơn khi giao dịch một số setup nhất định và có thể kích thích tư duy; nhưng chúng không cần thiết đối với bất kỳ giao dịch price action nào.

Các cuốn sách rất chi tiết, khó đọc và hướng đến những trader nghiêm túc muốn học càng nhiều càng tốt về cách đọc price chart. Tuy nhiên, các khái niệm này hữu ích cho trader ở mọi trình độ. Sách đề cập nhiều kỹ thuật tiêu chuẩn được Robert D. Edwards và John Magee (Technical Analysis of Stock Trends, AMACOM, ấn bản thứ 9, 2007) cùng những người khác mô tả, nhưng tập trung nhiều hơn vào từng bar để cho thấy thông tin do chúng cung cấp có thể cải thiện đáng kể risk/reward ratio trong trading như thế nào. Phần lớn sách chỉ ra ba hoặc bốn giao dịch trên một chart, ngụ ý rằng mọi thứ khác trên chart đều không thể hiểu được, vô nghĩa hoặc đầy rủi ro. Tôi tin rằng ta có thể học được điều gì đó từ mỗi tick diễn ra trong ngày và trên mỗi chart có nhiều giao dịch tuyệt vời hơn hẳn vài giao dịch hiển nhiên kia; nhưng để nhìn thấy chúng, bạn phải hiểu price action và không thể gạt bỏ bất kỳ bar nào vì cho rằng nó không quan trọng. Sau khi thực hiện hàng nghìn ca phẫu thuật qua kính hiển vi, tôi học được rằng một số thứ quan trọng nhất có thể rất nhỏ.

Tôi đọc chart theo từng bar và tìm kiếm mọi thông tin mà mỗi bar đang truyền đạt. Tất cả đều quan trọng. Khi mỗi bar kết thúc, phần lớn trader đều tự hỏi: “Điều gì vừa xảy ra?” Với đa số bar, họ kết luận rằng lúc này chẳng có gì đáng giao dịch nên cố gắng tìm hiểu cũng không đáng công. Thay vào đó, họ chọn chờ một pattern rõ ràng hơn và thường lớn hơn. Cứ như thể họ tin rằng bar đó không hề tồn tại, hoặc gạt nó đi vì cho rằng đó chỉ là hoạt động của chương trình institution mà trader cá nhân không thể giao dịch được. Vào những lúc này, họ không cảm thấy mình là một phần của thị trường, nhưng những thời điểm ấy lại chiếm phần lớn tuyệt đối trong ngày. Thế nhưng nếu nhìn vào volume, tất cả các bar mà họ đang bỏ qua đều có volume ngang với những bar họ dùng làm cơ sở cho giao dịch. Rõ ràng có rất nhiều hoạt động giao dịch đang diễn ra, nhưng họ không hiểu sao điều đó có thể xảy ra và về cơ bản giả vờ rằng nó không tồn tại. Nhưng như vậy là phủ nhận thực tế. Hoạt động giao dịch luôn diễn ra, và với tư cách trader, bạn có trách nhiệm với chính mình là phải hiểu tại sao nó diễn ra và tìm ra cách kiếm tiền từ nó. Học cách hiểu điều thị trường đang nói với bạn rất tốn thời gian và khó khăn, nhưng nó mang lại nền tảng cần thiết để bạn trở thành một trader thành công.

Khác với hầu hết sách về candle chart, nơi phần lớn độc giả cảm thấy buộc phải ghi nhớ các pattern, ba cuốn sách này của tôi đưa ra lý do giải thích vì sao những pattern cụ thể lại là các setup đáng tin cậy cho trader. Một số thuật ngữ được sử dụng có ý nghĩa riêng đối với các chuyên gia phân tích kỹ thuật thị trường nhưng lại mang ý nghĩa khác với trader, và tôi viết toàn bộ nội dung này từ góc nhìn của một trader. Tôi chắc chắn rằng nhiều trader đã hiểu mọi thứ trong những cuốn sách này, nhưng có lẽ họ sẽ không mô tả price action theo cách của tôi. Giữa các trader thành công không có bí mật nào; tất cả họ đều biết những setup phổ biến, và nhiều người có tên gọi riêng cho từng setup. Tất cả họ mua và bán gần như cùng thời điểm, bắt cùng các swing, và mỗi người có lý do riêng để vào lệnh. Nhiều người giao dịch price action bằng trực giác mà không bao giờ cảm thấy cần phải diễn đạt thành lời lý do một setup nào đó có hiệu quả. Tôi hy vọng họ sẽ thích đọc cách hiểu và góc nhìn của tôi về price action, đồng thời từ đó có được một số insight giúp hoạt động trading vốn đã thành công của họ trở nên tốt hơn.

Mục tiêu của phần lớn trader là tối đa hóa lợi nhuận trading bằng một phong cách phù hợp với tính cách của mình. Nếu không có sự phù hợp đó, tôi tin rằng gần như không thể giao dịch có lợi nhuận trong dài hạn. Nhiều trader thắc mắc sẽ mất bao lâu để thành công và sẵn sàng thua lỗ trong một thời gian, thậm chí vài năm. Tuy nhiên, tôi đã mất hơn 10 năm mới có thể giao dịch thành công. Mỗi người chúng ta đều có nhiều điều phải cân nhắc và nhiều yếu tố gây xao nhãng, nên thời gian sẽ khác nhau; nhưng một trader phải vượt qua phần lớn trở ngại trước khi có thể đạt lợi nhuận ổn định. Tôi từng có một số vấn đề lớn cần giải quyết, trong đó có việc nuôi dạy ba cô con gái tuyệt vời, những người luôn khiến tâm trí tôi đầy ắp suy nghĩ về các con và những việc tôi cần làm với tư cách một người cha. Vấn đề đó được giải quyết khi các con lớn hơn và độc lập hơn. Sau đó, tôi mất rất nhiều thời gian để chấp nhận rằng nhiều nét tính cách của mình là có thật và không thể thay đổi (hoặc ít nhất tôi kết luận rằng mình không sẵn lòng thay đổi chúng). Cuối cùng là vấn đề về sự tự tin. Tôi luôn tự tin đến mức kiêu ngạo trong rất nhiều việc, nên những người biết tôi sẽ ngạc nhiên khi thấy đây lại là điều khó khăn với tôi. Tuy nhiên, sâu thẳm bên trong, tôi tin rằng mình thực sự sẽ không bao giờ tìm ra một phương pháp có lợi nhuận ổn định mà mình có thể vui vẻ sử dụng trong nhiều năm. Thay vào đó, tôi mua rất nhiều system, viết và kiểm thử vô số indicator và system, đọc nhiều sách và tạp chí, tham dự seminar, thuê gia sư và tham gia các chat room. Tôi nói chuyện với những người tự giới thiệu là trader thành công, nhưng chưa bao giờ thấy account statement của họ và nghi rằng phần lớn có thể dạy, còn rất ít người, nếu có, thực sự có thể giao dịch. Trong trading, thường thì người biết không nói, còn người nói lại không biết.

Tất cả những việc này cực kỳ hữu ích vì chúng cho tôi thấy mọi thứ mình cần tránh trước khi có thể thành công. Bất kỳ người nào không phải trader khi nhìn vào chart cũng gần như luôn kết luận rằng trading hẳn phải cực kỳ dễ dàng, và đó là một phần sức hấp dẫn của nó. Vào cuối ngày, bất kỳ ai cũng có thể nhìn vào bất kỳ chart nào và thấy các điểm entry và exit rất rõ ràng. Tuy nhiên, làm điều đó trong real time khó hơn nhiều. Con người có xu hướng tự nhiên là muốn mua đúng tại low tuyệt đối và không bao giờ để giao dịch quay trở lại. Nếu nó quay lại, người mới sẽ chấp nhận khoản lỗ để tránh một khoản lỗ lớn hơn, dẫn đến một chuỗi giao dịch thua lỗ mà cuối cùng sẽ làm cháy tài khoản. Dùng stop rộng phần nào giải quyết được vấn đề đó, nhưng trader gần như chắc chắn sẽ sớm gặp vài khoản lỗ lớn, khiến họ rơi vào tình trạng âm tiền và quá sợ hãi để tiếp tục sử dụng phương pháp này.

Bạn có nên lo rằng việc công khai thông tin trong những cuốn sách này sẽ tạo ra rất nhiều price action trader xuất sắc, tất cả cùng làm một việc vào cùng một thời điểm, từ đó loại bỏ những người vào muộn cần thiết để đẩy thị trường đến price target của bạn không? Không, vì các institution kiểm soát thị trường, họ đã có những trader thông minh nhất thế giới và những trader đó đã biết mọi thứ trong các cuốn sách này, ít nhất là bằng trực giác. Ở mọi thời điểm, một institutional bull cực kỳ thông minh đang đứng ở phía đối diện với giao dịch của một institutional bear cực kỳ thông minh. Vì những người chơi quan trọng nhất đã hiểu price action, việc có thêm người chơi biết về nó sẽ không làm cán cân nghiêng về bất kỳ phía nào. Do đó, tôi không lo những điều mình viết sẽ khiến price action ngừng hiệu quả. Vì sự cân bằng đó, edge mà bất kỳ ai có được sẽ luôn cực kỳ nhỏ, và bất kỳ sai lầm nhỏ nào cũng sẽ dẫn đến thua lỗ, cho dù người đó đọc chart giỏi đến đâu. Mặc dù rất khó kiếm tiền với tư cách trader nếu không hiểu price action, chỉ riêng kiến thức đó vẫn chưa đủ. Sau khi học cách đọc chart, trader còn mất nhiều thời gian để học cách trading, và trading cũng khó không kém đọc chart. Tôi viết những cuốn sách này để giúp mọi người học cách đọc chart tốt hơn và trading tốt hơn; nếu bạn có thể làm tốt cả hai, bạn xứng đáng lấy tiền từ tài khoản của người khác và đưa vào tài khoản của mình.

Lý do những pattern mà tất cả chúng ta nhìn thấy lại diễn tiến theo cách đó là vì đây chính là hình dạng xuất hiện trong một thị trường hiệu quả, nơi vô số trader đặt lệnh vì hàng nghìn lý do khác nhau, nhưng phần volume chi phối lại được giao dịch dựa trên logic vững chắc. Đơn giản là nó trông như vậy, và từ trước đến nay vẫn luôn như vậy. Cùng những pattern ấy hình thành trên mọi time frame, trong mọi thị trường trên toàn thế giới, và đơn giản là không thể thao túng tất cả một cách tức thời trên nhiều cấp độ khác nhau đến vậy. Price action là biểu hiện của hành vi con người và vì thế thực ra có nền tảng di truyền. Cho đến khi chúng ta tiến hóa, nhiều khả năng nó vẫn gần như không thay đổi, giống như nó đã không thay đổi trong 80 năm dữ liệu chart mà tôi đã xem xét. Program trading có thể đã làm hình dạng của chart thay đổi đôi chút, dù tôi không tìm thấy bằng chứng nào ủng hộ giả thuyết đó. Nếu có tác động gì thì nó sẽ làm các chart mượt hơn, bởi program trading không có cảm xúc và đã làm volume tăng lên đáng kể. Giờ đây, khi phần lớn volume được máy tính giao dịch tự động và volume lớn đến vậy, hành vi phi lý trí và cảm tính chỉ còn là một thành phần không đáng kể của thị trường, còn các chart là sự thể hiện thuần khiết hơn những xu hướng hành vi của con người. Vì price action bắt nguồn từ DNA của chúng ta, nó sẽ không thay đổi cho đến khi chúng ta tiến hóa.

Khi nhìn vào hai chart trong Figure I.1, phản ứng đầu tiên của bạn sẽ là chúng chỉ là hai chart bình thường, nhưng hãy nhìn các mốc ngày tháng ở phía dưới. Những weekly chart của Dow Jones Industrial Average từ thời Đại Suy thoái và Thế chiến II có cùng các pattern mà ngày nay chúng ta thấy trên mọi chart, dù phần lớn volume hiện nay được máy tính giao dịch.

Figure I.1 — Price action không thay đổi theo thời gian

Nếu tất cả mọi người đột nhiên trở thành price action scalper, các pattern nhỏ hơn có thể thay đổi đôi chút trong một thời gian, nhưng về lâu dài, thị trường hiệu quả sẽ thắng thế và lá phiếu của tất cả trader sẽ được cô đọng thành các price action pattern tiêu chuẩn, bởi đó là kết quả không thể tránh khỏi khi vô số người hành xử hợp lý. Ngoài ra, thực tế là giao dịch tốt rất khó; mặc dù đặt giao dịch dựa trên price action là một phương pháp vững chắc, thực hiện thành công trong real time vẫn rất khó. Sẽ không có đủ trader làm việc đó đủ tốt, cùng một lúc, để có bất kỳ ảnh hưởng đáng kể lâu dài nào lên các pattern. Chỉ cần nhìn Edwards và Magee. Những trader giỏi nhất thế giới đã sử dụng các ý tưởng đó suốt nhiều thập kỷ và chúng vẫn tiếp tục hiệu quả, một lần nữa cũng vì cùng lý do: chart có hình dạng như vậy vì đó là dấu vân tay không thể thay đổi của một thị trường hiệu quả, chứa đầy một số lượng khổng lồ những người thông minh sử dụng vô số phương pháp và time frame, tất cả đều cố gắng kiếm được nhiều tiền nhất có thể. Ví dụ, Tiger Woods không hề che giấu bất kỳ điều gì anh làm trong môn golf và bất kỳ ai cũng có thể tự do bắt chước anh. Tuy nhiên, rất ít người có thể chơi golf đủ giỏi để kiếm sống bằng môn này. Trading cũng vậy. Một trader có thể biết gần như mọi thứ cần biết mà vẫn thua lỗ, bởi áp dụng toàn bộ kiến thức ấy theo cách kiếm tiền ổn định là điều rất khó.

Tại sao nhiều trường kinh doanh vẫn tiếp tục khuyên đọc Edwards và Magee trong khi cuốn sách của họ về cơ bản rất đơn giản, chủ yếu sử dụng trend line, breakout và pullback làm nền tảng giao dịch? Bởi vì phương pháp đó hiệu quả, luôn hiệu quả và sẽ mãi hiệu quả. Giờ đây, gần như mọi trader đều có máy tính với quyền truy cập dữ liệu intraday, nên nhiều kỹ thuật trong số đó có thể được điều chỉnh để áp dụng vào day trading. Ngoài ra, candle chart cung cấp thêm thông tin về bên đang kiểm soát thị trường, nhờ đó trader có thể entry đúng lúc hơn với risk nhỏ hơn. Edwards và Magee tập trung vào trend tổng thể. Tôi sử dụng những kỹ thuật cơ bản tương tự, nhưng chú ý kỹ hơn nhiều đến từng bar trên chart để cải thiện risk/reward ratio, đồng thời dành sự quan tâm đáng kể cho intraday chart.

Đối với tôi, có một điều dường như hiển nhiên: nếu chỉ cần đọc chart đủ tốt để entry đúng vào những thời điểm move sắp bứt đi và không quay lại, trader đó sẽ có lợi thế rất lớn. Trader sẽ có tỷ lệ thắng cao, còn số ít khoản lỗ sẽ nhỏ. Tôi quyết định lấy điều này làm điểm xuất phát, và điều tôi khám phá ra là không cần bổ sung bất kỳ thứ gì. Trên thực tế, mọi thứ bổ sung đều là yếu tố gây xao nhãng dẫn đến lợi nhuận thấp hơn. Điều này nghe hiển nhiên và dễ dàng đến mức phần lớn mọi người khó mà tin được.

Tôi là một day trader hoàn toàn dựa vào price action trên intraday Emini S&P 500 Futures chart, và tôi tin rằng đọc price action tốt là một kỹ năng vô giá đối với mọi trader. Thay vào đó, người mới thường có niềm tin ăn sâu rằng cần một thứ gì khác nữa, rằng có lẽ một công thức toán học phức tạp mà rất ít người sử dụng sẽ mang lại đúng edge họ cần. Goldman Sachs giàu có và tinh vi đến mức các trader của họ hẳn phải có một siêu máy tính cùng phần mềm mạnh mẽ, tạo cho họ lợi thế đảm bảo mọi trader cá nhân đều phải chịu thất bại. Người mới bắt đầu xem xét đủ loại indicator và thử điều chỉnh input để tùy biến indicator cho thật hoàn hảo. Mọi indicator đều có hiệu quả trong một số thời điểm, nhưng với tôi, chúng che khuất thay vì làm sáng tỏ. Thực tế, ngay cả khi không nhìn chart, bạn vẫn có thể đặt buy order và có 50 phần trăm khả năng đúng!

Tôi không gạt bỏ indicator và system vì không hiểu những điểm tinh tế của chúng. Trong nhiều năm, tôi đã dành hơn 10.000 giờ để viết và kiểm thử indicator cùng system, và đó có lẽ là lượng kinh nghiệm lớn hơn hẳn đa số mọi người. Kinh nghiệm sâu rộng này với indicator và system là một phần thiết yếu giúp tôi trở thành trader thành công. Indicator có hiệu quả tốt với nhiều trader, nhưng thành công lớn nhất đến khi trader tìm được phương pháp phù hợp với tính cách của mình. Vấn đề lớn nhất của riêng tôi với indicator và system là tôi chưa bao giờ hoàn toàn tin tưởng chúng. Ở mỗi setup, tôi đều nhìn thấy những ngoại lệ cần được kiểm thử. Tôi luôn muốn lấy đến từng xu cuối cùng từ thị trường và không bao giờ hài lòng với lợi nhuận của một system nếu tôi có thể đưa vào một biến tấu mới để cải thiện nó. Bạn có thể liên tục optimize, nhưng vì thị trường luôn thay đổi từ trend mạnh sang tight trading range rồi lại quay về, trong khi các optimization của bạn dựa trên những gì vừa xảy ra gần đây, chúng sẽ sớm thất bại khi thị trường chuyển sang một giai đoạn mới. Tôi đơn giản là quá thích kiểm soát, quá ám ảnh, bồn chồn, hay quan sát và đa nghi để có thể kiếm tiền dài hạn từ indicator hoặc automated system; nhưng theo nhiều phương diện, tôi thuộc trường hợp cực đoan và phần lớn mọi người không gặp những vấn đề giống tôi.

Nhiều trader, đặc biệt là người mới, bị indicator thu hút (hoặc bất kỳ quyền lực cao hơn, guru, TV pundit hay newsletter nào mà họ muốn tin rằng sẽ bảo vệ mình, đồng thời thể hiện tình yêu và sự công nhận họ với tư cách con người bằng cách trao cho họ thật nhiều tiền), với hy vọng indicator sẽ chỉ cho họ khi nào nên entry. Điều họ không nhận ra là phần lớn tuyệt đối các indicator đều dựa trên price action đơn giản, còn khi tôi vào lệnh, tôi không thể suy nghĩ đủ nhanh để xử lý thông tin mà nhiều indicator có thể đang truyền đạt. Nếu có một bull trend, một pullback, rồi một rally lên new high, nhưng rally có nhiều bar chồng lấn, nhiều bear body, vài pullback nhỏ và những tail nổi bật ở phía trên các bar, bất kỳ trader giàu kinh nghiệm nào cũng sẽ thấy đây là một lần test yếu đối với trend high và điều này không nên xảy ra nếu bull trend vẫn còn mạnh. Gần như chắc chắn thị trường đang chuyển sang trading range và có thể sang bear trend. Trader không cần oscillator để nói cho họ biết điều này. Ngoài ra, oscillator có xu hướng khiến trader tìm reversal và ít tập trung hơn vào price chart. Đây có thể là những công cụ hiệu quả trong phần lớn các ngày khi thị trường có hai hoặc ba reversal kéo dài một giờ trở lên.

Vấn đề xuất hiện khi thị trường đang trend rất mạnh. Nếu tập trung quá nhiều vào indicator, bạn sẽ thấy chúng hình thành divergence suốt cả ngày và có thể liên tục entry countertrend rồi thua lỗ. Đến khi chấp nhận rằng thị trường đang trend, bạn sẽ không còn đủ thời gian trong ngày để bù lại các khoản lỗ. Trái lại, nếu chỉ nhìn bar chart hoặc candle chart, bạn sẽ thấy rõ thị trường đang trend và không bị indicator cám dỗ đi tìm trend reversal. Những reversal thành công phổ biến nhất trước tiên sẽ phá trend line với momentum mạnh, sau đó pull back để test extreme; nếu tập trung quá nhiều vào divergence, trader thường sẽ bỏ qua thực tế nền tảng này. Vào lệnh vì divergence khi trước đó chưa có một đợt tăng vọt countertrend momentum phá trend line là một chiến lược thua lỗ. Hãy chờ trend line break, rồi xem lần test extreme cũ có reversal hay trend cũ tiếp tục. Bạn không cần indicator để biết rằng một reversal mạnh ở đây là giao dịch có xác suất cao, ít nhất cho một scalp, và gần như chắc chắn sẽ có divergence; vậy tại sao phải làm tư duy của mình phức tạp hơn bằng cách đưa indicator vào phép tính?

Một số pundit khuyến nghị kết hợp nhiều time frame, indicator, wave counting, Fibonacci retracement và extension; nhưng đến lúc vào lệnh, họ chỉ làm vậy nếu có một price action setup tốt. Ngoài ra, khi nhìn thấy một price action setup tốt, họ bắt đầu tìm indicator thể hiện divergence, các time frame khác nhau để tìm moving average test, wave count hoặc Fibonacci setup nhằm xác nhận điều đang ở ngay trước mắt. Trên thực tế, họ là price action trader giao dịch hoàn toàn dựa vào price action trên chỉ một chart, nhưng không cảm thấy thoải mái khi thừa nhận điều đó. Họ làm trading của mình phức tạp đến mức chắc chắn bỏ lỡ rất nhiều, rất nhiều giao dịch, vì việc overanalysis khiến họ mất quá nhiều thời gian để đặt lệnh và buộc phải chờ setup tiếp theo. Đơn giản là không có logic nào để biến điều đơn giản thành phức tạp đến vậy. Rõ ràng việc bổ sung bất kỳ thông tin nào cũng có thể giúp đưa ra quyết định tốt hơn, và nhiều người có thể xử lý nhiều input khi quyết định có vào lệnh hay không. Chỉ vì một hệ tư tưởng đơn giản hóa mà phớt lờ dữ liệu là điều ngu ngốc. Mục tiêu là kiếm tiền, và trader nên làm mọi thứ có thể để tối đa hóa lợi nhuận. Tôi đơn giản là không thể xử lý tốt nhiều indicator và time frame trong khoảng thời gian cần thiết để đặt lệnh chính xác, và tôi thấy rằng việc đọc kỹ một chart duy nhất mang lại cho mình lợi nhuận cao hơn nhiều. Ngoài ra, nếu dựa vào indicator, tôi nhận thấy mình trở nên lười biếng khi đọc price action và thường bỏ lỡ điều hiển nhiên. Price action quan trọng hơn hẳn mọi thông tin khác; nếu hy sinh một phần điều nó đang nói với bạn để lấy thông tin từ thứ khác, nhiều khả năng bạn đang đưa ra một quyết định tồi.

Một trong những điều gây thất vọng nhất đối với trader khi mới bắt đầu là mọi thứ đều quá chủ quan. Họ muốn tìm một bộ quy tắc rõ ràng đảm bảo lợi nhuận, và họ ghét việc một pattern có hiệu quả vào ngày này nhưng thất bại vào ngày khác. Các thị trường rất hiệu quả vì có vô số người cực kỳ thông minh cùng tham gia một zero-sum game. Để kiếm được tiền, một trader phải luôn giỏi hơn khoảng một nửa số trader khác ngoài kia. Vì phần lớn đối thủ là các institution có lợi nhuận, trader phải thực sự rất giỏi. Bất cứ khi nào một edge xuất hiện, nó nhanh chóng bị phát hiện rồi biến mất. Hãy nhớ rằng phải có người đứng ở phía đối diện giao dịch của bạn. Họ sẽ không mất nhiều thời gian để tìm ra system kỳ diệu của bạn, và một khi tìm ra, họ sẽ ngừng trao tiền cho bạn. Một phần sức hấp dẫn của trading là đây là một zero-sum game với edge rất nhỏ; việc có thể phát hiện và tận dụng những cơ hội nhỏ bé, thoáng qua ấy mang lại cả sự thỏa mãn về trí tuệ lẫn phần thưởng tài chính. Bạn có thể làm được, nhưng đó là công việc rất khó khăn và đòi hỏi kỷ luật không ngừng nghỉ. Kỷ luật đơn giản có nghĩa là làm điều bạn không muốn làm. Tất cả chúng ta đều tò mò về trí tuệ và có xu hướng tự nhiên muốn thử những điều mới hoặc khác biệt, nhưng những trader giỏi nhất chống lại cám dỗ đó. Bạn phải tuân thủ các quy tắc của mình, tránh cảm xúc và kiên nhẫn chờ đợi để chỉ thực hiện những giao dịch tốt nhất. Tất cả có vẻ dễ làm khi bạn nhìn vào chart in ra vào cuối ngày, nhưng trong real time thì rất khó, khi bạn phải chờ từng bar, đôi khi từng giờ. Khi một setup tuyệt vời xuất hiện, nếu bị xao nhãng hoặc bị ru ngủ đến mức chủ quan, bạn sẽ bỏ lỡ nó rồi buộc phải chờ lâu hơn nữa. Nhưng nếu có thể phát triển sự kiên nhẫn và kỷ luật để tuân theo một system vững chắc, tiềm năng lợi nhuận sẽ rất lớn.

Có vô số cách kiếm tiền từ giao dịch cổ phiếu và Emini, nhưng tất cả đều cần movement (à, ngoại trừ short options). Nếu học cách đọc chart, mỗi ngày bạn sẽ bắt được rất nhiều giao dịch có lợi nhuận mà không bao giờ cần biết tại sao một institution nào đó khởi đầu trend và cũng không cần biết bất kỳ indicator nào đang hiển thị điều gì. Bạn không cần phần mềm hay analyst của các institution đó vì họ sẽ cho bạn thấy họ đang làm gì. Tất cả những gì bạn phải làm là bám theo giao dịch của họ và bạn sẽ kiếm được lợi nhuận. Price action sẽ cho bạn biết họ đang làm gì và cho phép bạn entry sớm với stop chặt.

Tôi nhận thấy mình liên tục kiếm được nhiều tiền hơn hẳn khi giảm thiểu những điều phải cân nhắc lúc vào lệnh. Tất cả những gì tôi cần là một chart duy nhất trên laptop, không có indicator nào ngoài exponential moving average 20 bar (EMA); nó không đòi hỏi phân tích quá nhiều và mỗi ngày làm rõ nhiều setup tốt. Một số trader cũng có thể xem volume vì một đợt volume spike lớn bất thường đôi khi xuất hiện gần cuối bear trend, và một hoặc hai new swing low tiếp theo thường mang lại các long scalp có lợi nhuận. Volume spike đôi khi cũng xuất hiện trên daily chart khi một đợt sell-off đã đi quá xa. Tuy nhiên, tín hiệu này không đủ đáng tin cậy để tôi phải chú ý.

Nhiều trader chỉ cân nhắc price action khi giao dịch divergence và trend pullback. Trên thực tế, phần lớn trader sử dụng indicator sẽ không vào lệnh trừ khi có signal bar mạnh, và nhiều người sẽ entry trên một signal bar mạnh nếu context phù hợp, ngay cả khi không có divergence. Họ thích thấy một close mạnh trên reversal bar lớn, nhưng trên thực tế điều này tương đối hiếm. Những công cụ hữu ích nhất để hiểu price action là trend line và trend channel line, các high và low trước đó, breakout và failed breakout, kích thước body và tail của candle, cũng như mối quan hệ giữa bar hiện tại với vài bar trước. Đặc biệt, cách open, high, low và close của bar hiện tại so với action của vài bar trước tiết lộ rất nhiều về điều sẽ xảy ra tiếp theo. Chart cung cấp nhiều thông tin về bên đang kiểm soát thị trường hơn hẳn những gì phần lớn trader nhận ra. Gần như mọi bar đều đưa ra manh mối quan trọng về nơi thị trường đang hướng tới; một trader gạt bỏ bất kỳ hoạt động nào vì cho rằng đó là noise sẽ bỏ qua nhiều giao dịch có lợi nhuận mỗi ngày. Phần lớn các nhận định trong những cuốn sách này liên quan trực tiếp đến việc vào lệnh, nhưng một số ít chỉ nói về những khuynh hướng price action đáng tò mò, chưa đủ độ tin cậy để làm cơ sở cho giao dịch.

Cá nhân tôi chủ yếu dựa vào candle chart khi giao dịch Emini, futures và cổ phiếu, nhưng phần lớn signal cũng có thể nhìn thấy trên bất kỳ loại chart nào, và nhiều signal thậm chí còn thể hiện rõ trên line chart đơn giản. Tôi chủ yếu tập trung vào candle chart 5 phút để minh họa các nguyên tắc cơ bản, nhưng cũng thảo luận cả daily chart và weekly chart. Vì tôi còn giao dịch cổ phiếu, forex, Treasury note futures và options, tôi cũng trình bày cách sử dụng price action làm nền tảng cho các loại giao dịch này.

Với tư cách trader, tôi nhìn mọi thứ theo các sắc độ xám và không ngừng suy nghĩ bằng xác suất. Nếu một pattern đang hình thành và không hoàn hảo nhưng tương đối giống một setup đáng tin cậy, nhiều khả năng nó cũng sẽ vận động tương tự. Gần đúng thường đã là đủ gần. Nếu một thứ gì đó giống setup trong sách giáo khoa, nhiều khả năng giao dịch sẽ diễn tiến theo cách tương tự giao dịch từ setup trong sách. Đây là nghệ thuật trading, và phải mất nhiều năm mới có thể giao dịch tốt trong vùng xám. Ai cũng muốn có các quy tắc hoặc indicator cụ thể, rõ ràng, cũng như chat room, newsletter, hotline hoặc gia sư nói chính xác khi nào nên vào để giảm thiểu risk và tối đa hóa profit; nhưng không thứ nào trong số đó có hiệu quả về dài hạn. Bạn phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình, nhưng trước hết phải học cách đưa ra chúng, nghĩa là bạn phải quen với việc hoạt động trong màn sương xám. Không có gì rõ ràng như đen và trắng, và tôi đã làm việc này đủ lâu để hiểu rằng bất kỳ điều gì, dù khó xảy ra đến đâu, đều có thể và sẽ xảy ra. Nó giống như vật lý lượng tử. Mọi sự kiện có thể hình dung đều có một xác suất, và cả những sự kiện bạn chưa từng cân nhắc cũng vậy. Việc này không liên quan đến cảm xúc, và lý do một điều gì đó xảy ra không quan trọng. Ngồi chờ xem hôm nay Federal Reserve có cắt giảm lãi suất hay không là lãng phí thời gian, bởi bất kỳ điều gì Fed làm cũng có thể được diễn giải theo cả hướng bullish lẫn bearish. Điều cốt yếu là xem thị trường làm gì, chứ không phải Fed làm gì.

Nếu nghĩ kỹ, trading là một zero-sum game và không thể có một zero-sum game trong đó các quy tắc luôn có hiệu quả. Nếu chúng có hiệu quả, mọi người sẽ dùng chúng và khi đó sẽ không còn ai ở phía đối diện giao dịch. Vì vậy, giao dịch ấy không thể tồn tại. Guideline rất hữu ích, nhưng quy tắc đáng tin cậy thì không thể tồn tại; điều này thường gây rất nhiều bất an cho trader mới bắt đầu, người muốn tin rằng trading là một trò chơi có thể mang lại lợi nhuận rất cao, miễn là họ nghĩ ra đúng bộ quy tắc. Mọi quy tắc đều có hiệu quả trong một số thời điểm, và thường vừa đủ thường xuyên để đánh lừa bạn tin rằng chỉ cần tinh chỉnh đôi chút là chúng sẽ luôn có hiệu quả. Bạn đang cố tạo ra một vị thần trading để bảo vệ mình, nhưng thực ra bạn đang tự lừa dối bản thân và tìm kiếm một giải pháp dễ dàng cho trò chơi mà chỉ những giải pháp khó khăn mới có hiệu quả. Bạn đang cạnh tranh với những người thông minh nhất thế giới; nếu bạn đủ thông minh để nghĩ ra một bộ quy tắc hoàn hảo không thể thất bại, họ cũng vậy, và khi đó mọi người đều phải đối mặt với thế lưỡng nan của zero-sum game. Bạn không thể kiếm tiền từ trading nếu không linh hoạt, bởi bạn cần đi theo hướng thị trường đang đi, mà thị trường thì cực kỳ linh hoạt. Nó có thể uốn theo mọi hướng và kéo dài lâu hơn nhiều so với điều phần lớn mọi người từng hình dung. Nó cũng có thể liên tục reversal sau mỗi vài bar trong một khoảng thời gian rất, rất dài. Cuối cùng, nó có thể và sẽ làm mọi thứ nằm giữa hai thái cực đó. Đừng bao giờ bực bội vì điều này; hãy đơn giản chấp nhận nó là thực tế và chiêm ngưỡng nó như một phần vẻ đẹp của trò chơi.

Thị trường luôn hướng về trạng thái bất định. Trong phần lớn thời gian của ngày, mọi thị trường đều có xác suất định hướng 50–50 cho một move có khoảng cách bằng nhau theo hướng lên hoặc xuống. Ý tôi là nếu thậm chí không nhìn chart mà mua bất kỳ cổ phiếu nào, rồi đặt lệnh one cancels the other (OCO) để exit bằng profit-taking limit order cao hơn entry X cent hoặc bằng protective stop thấp hơn entry X cent, bạn có khoảng 50 phần trăm khả năng đúng. Tương tự, nếu bán bất kỳ cổ phiếu nào tại bất kỳ thời điểm nào trong ngày mà không nhìn chart, rồi đặt profit-taking limit order thấp hơn X cent và protective stop cao hơn X cent, bạn có khoảng 50 phần trăm khả năng thắng và khoảng 50 phần trăm khả năng thua. Ngoại lệ hiển nhiên là khi X quá lớn so với giá cổ phiếu. Bạn không thể đặt X là 60 USD đối với cổ phiếu giá 50 USD, bởi khả năng bạn thua 60 USD sẽ là 0 phần trăm. Bạn cũng không thể đặt X là 49 USD, bởi xác suất thua 49 USD cũng cực kỳ nhỏ. Nhưng nếu chọn một giá trị X nằm trong phạm vi hợp lý có thể đạt tới trên time frame của mình, nhìn chung điều này là đúng. Khi thị trường ở trạng thái 50–50, nó bất định và bạn không thể có quan điểm hợp lý về hướng đi của nó. Đây là dấu hiệu đặc trưng của trading range, vì vậy bất cứ khi nào bạn không chắc chắn, hãy giả định thị trường đang ở trong trading range. Có những khoảng thời gian ngắn trên chart khi xác suất định hướng cao hơn. Trong một trend mạnh, nó có thể là 60 hoặc thậm chí 70 phần trăm, nhưng trạng thái đó không thể kéo dài vì thị trường sẽ hướng về sự bất định và trạng thái 50–50, nơi cả bull lẫn bear đều cảm thấy có value. Khi có trend và một mức độ chắc chắn nào đó về hướng đi, thị trường cũng sẽ hướng đến các vùng support và resistance, thường cách đó một measured move nào đó; những vùng này luôn là nơi sự bất định quay trở lại và trading range hình thành, ít nhất trong một khoảng thời gian ngắn.

Đừng bao giờ xem tin tức trong ngày giao dịch. Nếu muốn biết một sự kiện tin tức có ý nghĩa gì, chart trước mặt sẽ nói cho bạn biết. Các phóng viên tin rằng tin tức là thứ quan trọng nhất trên đời và mọi việc xảy ra đều phải do câu chuyện tin tức lớn nhất trong ngày của họ gây nên. Vì phóng viên làm trong ngành tin tức, nên tin tức hẳn phải là trung tâm vũ trụ và là nguyên nhân của mọi việc xảy ra trên các thị trường tài chính. Khi thị trường cổ phiếu sell-off vào giữa tháng 3 năm 2011, họ quy nguyên nhân cho trận động đất ở Japan. Họ không quan tâm đến việc thị trường đã bắt đầu sell-off từ ba tuần trước đó, sau một buy climax. Vào cuối tháng 2, tôi đã nói với các thành viên trong chat room của mình rằng khả năng cao thị trường sẽ có một correction đáng kể, khi tôi thấy 15 bull trend bar liên tiếp trên daily chart sau một bull run kéo dài. Đây là một buy climax mạnh bất thường và là một thông điệp quan trọng từ thị trường. Tôi không hề biết vài tuần sau sẽ xảy ra động đất, và dù sao cũng chẳng cần biết. Chart đang cho tôi biết trader làm gì: họ chuẩn bị exit các vị thế long và mở vị thế short.

Các chuyên gia trên truyền hình cũng vô dụng. Gần như lần nào thị trường tạo một move khổng lồ, phóng viên cũng tìm một chuyên gia tự tin, đầy thuyết phục từng dự đoán được move đó để phỏng vấn, khiến khán giả tin rằng pundit này có khả năng phi thường trong việc dự đoán thị trường, bất chấp một sự thật không được nói ra là chính pundit ấy đã sai trong 10 dự đoán gần nhất. Sau đó, pundit đưa ra một dự đoán tương lai nào đó, còn những khán giả ngây thơ sẽ gán tầm quan trọng cho nó và để nó ảnh hưởng đến trading của mình. Điều khán giả có thể không nhận ra là một số pundit bullish 100 phần trăm thời gian, số khác bearish 100 phần trăm thời gian, còn những người khác nữa thì lúc nào cũng đánh cược tất tay và đưa ra các dự đoán thái quá. Phóng viên đơn giản lao đến tìm người có quan điểm phù hợp với tin tức trong ngày; điều này hoàn toàn vô ích đối với trader và trên thực tế còn có hại, bởi nó có thể ảnh hưởng đến hoạt động trading, khiến họ nghi ngờ và đi chệch khỏi phương pháp của chính mình. Không ai luôn đúng quá 60 phần trăm thời gian trong những dự đoán lớn như vậy, và việc các pundit nói năng thuyết phục không khiến họ trở nên đáng tin cậy. Có những người thông minh và thuyết phục không kém tin vào điều ngược lại nhưng không được lên tiếng. Điều này giống như xem một phiên tòa mà chỉ nghe lập luận của phía bào chữa. Chỉ nghe một phía lúc nào cũng có vẻ thuyết phục, nhưng luôn gây hiểu lầm và hiếm khi có độ tin cậy cao hơn 50 phần trăm.

Institutional bull và institutional bear liên tục đặt lệnh, và đó là lý do luôn tồn tại sự bất định về hướng thị trường. Ngay cả khi không có tin nóng, các kênh kinh doanh vẫn phát phỏng vấn suốt cả ngày và mỗi phóng viên được chọn một pundit cho bản tin của mình. Điều bạn phải nhận ra là cô ấy chỉ có xác suất 50–50 chọn đúng người xét về hướng thị trường trong khoảng một giờ tiếp theo. Nếu quyết định dựa vào pundit để đưa ra quyết định giao dịch và ông ta nói thị trường sẽ sell-off sau giữa trưa, nhưng thay vào đó nó cứ tiếp tục đi lên, bạn có định tìm cơ hội short không? Bạn có nên tin vị head trader rất thuyết phục này tại một trong những công ty hàng đầu Wall Street không? Rõ ràng ông ta kiếm hơn một triệu USD mỗi năm, và công ty sẽ không trả ông ta nhiều đến vậy trừ khi ông ta có thể dự đoán chính xác, ổn định hướng thị trường. Thực ra có lẽ ông ta làm được và có lẽ là một người chọn cổ phiếu giỏi, nhưng gần như chắc chắn ông ta không phải day trader. Thật ngu ngốc khi tin rằng chỉ vì ông ta có thể kiếm 15 phần trăm mỗi năm từ quản lý tiền, ông ta cũng có thể dự đoán chính xác hướng thị trường trong một hoặc hai giờ tiếp theo. Hãy tự tính đi. Nếu có khả năng đó, ông ta sẽ kiếm 1 phần trăm hai hoặc ba lần mỗi ngày và có lẽ 1.000 phần trăm mỗi năm. Vì ông ta không làm được như vậy, bạn biết ông ta không có khả năng ấy. Time frame của ông ta là hàng tháng, còn của bạn là hàng phút. Vì ông ta không thể kiếm tiền bằng day trading, tại sao bạn lại muốn thực hiện một giao dịch dựa trên một người đã được chứng minh là thất bại trong vai trò day trader? Việc ông ta không phải một day trader thành công tự nó đã cho bạn thấy ông ta không thể kiếm tiền bằng day trading. Điều đó lập tức cho bạn biết rằng nếu day trade, ông ta sẽ thua lỗ, bởi nếu thành công, ông ta đã chọn làm công việc ấy và kiếm được nhiều hơn hẳn mức hiện tại.

Ngay cả khi bạn giữ giao dịch trong nhiều tháng nhằm sao chép kết quả của quỹ do ông ta quản lý, nghe theo lời khuyên của ông ta vẫn là điều ngu ngốc, vì tuần sau ông ta có thể đổi ý mà bạn sẽ không bao giờ biết. Quản lý giao dịch sau khi đã vào lệnh cũng quan trọng như việc vào lệnh. Nếu đi theo pundit và hy vọng kiếm 15 phần trăm mỗi năm giống ông ta, bạn cần làm theo cách ông ta quản lý giao dịch, nhưng bạn không có khả năng làm vậy và theo thời gian sẽ thua lỗ khi sử dụng chiến lược này. Đúng, thỉnh thoảng bạn sẽ có một giao dịch tuyệt vời, nhưng bạn cũng có thể đạt được điều đó chỉ bằng cách mua ngẫu nhiên bất kỳ cổ phiếu nào. Điều cốt yếu là phương pháp có kiếm được tiền qua 100 giao dịch hay không, chứ không phải trong một hoặc hai giao dịch đầu tiên. Hãy làm theo lời khuyên bạn vẫn dạy con mình: đừng tự lừa bản thân rằng những gì bạn thấy trên truyền hình là thật, bất kể nó có vẻ trau chuốt và thuyết phục đến đâu.

Như tôi đã nói, sẽ có những pundit nhìn nhận tin tức theo hướng bullish và những người khác nhìn nhận theo hướng bearish, còn phóng viên được chọn một người cho bản tin của cô ấy. Bạn định để một phóng viên đưa ra quyết định giao dịch thay mình sao? Thật điên rồ! Nếu phóng viên đó có thể trading, cô ấy đã trở thành trader và kiếm nhiều tiền hơn công việc phóng viên hàng trăm lần. Tại sao bạn lại để cô ấy ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của mình? Bạn chỉ có thể làm vậy vì thiếu tự tin vào năng lực bản thân, hoặc có lẽ vì đang tìm kiếm một hình tượng người cha sẽ yêu thương và bảo vệ mình. Nếu dễ bị ảnh hưởng bởi quyết định của phóng viên, bạn không nên thực hiện giao dịch đó. Pundit mà cô ấy chọn không phải cha bạn, và ông ta sẽ không bảo vệ bạn hay tiền của bạn. Ngay cả khi phóng viên chọn một pundit nhận định đúng về hướng đi, pundit đó cũng sẽ không ở lại cùng bạn để quản lý giao dịch, và nhiều khả năng bạn sẽ bị stop out với một khoản lỗ trong một pullback.

Các đài tin tức tài chính không tồn tại để phục vụ công chúng. Họ kinh doanh để kiếm tiền, và điều đó có nghĩa họ cần lượng khán giả lớn nhất có thể nhằm tối đa hóa doanh thu quảng cáo. Đúng là họ muốn đưa tin chính xác, nhưng mục tiêu chính vẫn là kiếm tiền. Họ hiểu rất rõ rằng chỉ có thể tối đa hóa quy mô khán giả nếu chương trình đủ hấp dẫn để xem. Điều đó có nghĩa họ phải có những khách mời thú vị, bao gồm một số người sẽ đưa ra dự đoán thái quá, một số người khác mang phong thái giáo sư và tạo cảm giác yên tâm, cùng một số người đơn giản là có ngoại hình thu hút; phần lớn trong số họ phải có giá trị giải trí nhất định. Mặc dù một số khách mời là trader xuất sắc, họ không thể giúp bạn. Ví dụ, nếu đài phỏng vấn một trong những bond trader thành công nhất thế giới, ông ấy thường chỉ nói những điều chung chung về trend trong vài tháng tới, và chỉ nói sau khi đã vào lệnh từ nhiều tuần trước. Nếu bạn là day trader, điều này không giúp ích gì, bởi mỗi bull market hoặc bear market trên monthly chart đều có số lượng up move trên intraday chart gần ngang với số down move, và ngày nào cũng có cả giao dịch long lẫn short. Time frame của ông ấy rất khác của bạn và hoạt động trading của ông ấy không liên quan gì đến việc bạn đang làm.

Họ cũng thường phỏng vấn một chartist từ một công ty lớn ở Wall Street; dù có hồ sơ chuyên môn tốt, người này sẽ đưa ra quan điểm dựa trên weekly chart, trong khi khán giả lại muốn chốt lời trong vài ngày. Đối với chartist, bull trend mà ông ấy khuyên mua vẫn còn nguyên vẹn ngay cả khi thị trường giảm 10 phần trăm trong vài tháng tiếp theo. Tuy nhiên, khán giả sẽ cắt lỗ từ rất lâu trước thời điểm đó và không bao giờ hưởng lợi từ new high xuất hiện ba tháng sau. Trừ khi chartist đang nói đến đúng mục tiêu và time frame cụ thể của bạn, mọi điều ông ấy nói đều vô dụng. Khi truyền hình phỏng vấn một day trader, người đó sẽ nói về những giao dịch mình đã thực hiện, và thông tin đã quá muộn để giúp bạn kiếm tiền. Đến lúc ông ấy xuất hiện trên truyền hình, thị trường có thể đã đi theo hướng ngược lại. Nếu ông ấy đang nói khi vẫn còn trong day trade, ông ấy sẽ tiếp tục quản lý giao dịch rất lâu sau khi cuộc phỏng vấn kéo dài hai phút kết thúc, và sẽ không quản lý nó trong lúc đang lên sóng. Ngay cả khi bạn entry vào giao dịch mà ông ấy đang giữ, ông ấy cũng sẽ không ở đó khi bạn chắc chắn phải đưa ra một quyết định quan trọng về việc thoát lệnh lúc thị trường quay ngược lại với mình, hoặc khi thị trường đi đúng hướng và bạn đang cân nhắc chốt lời. Xem truyền hình để tìm lời khuyên trading trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả sau một báo cáo rất quan trọng, là cách chắc chắn dẫn đến thua lỗ và bạn tuyệt đối không nên làm vậy.

Chỉ cần nhìn chart, nó sẽ nói cho bạn biết những gì cần biết. Chart là thứ sẽ mang tiền đến hoặc lấy tiền khỏi bạn, vì vậy đó là điều duy nhất bạn nên cân nhắc khi trading. Nếu đang ở trên sàn, bạn thậm chí không thể tin những gì người bạn thân nhất của mình đang làm. Anh ta có thể đang chào bán rất nhiều orange juice call, nhưng bí mật nhờ một broker tìm cách mua số lượng lớn gấp 10 lần ở bên dưới thị trường. Người bạn ấy chỉ đang cố tạo ra hoảng loạn để đẩy thị trường xuống, nhờ đó có thể tích lũy thật nhiều thông qua một người đại diện ở mức giá tốt hơn đáng kể.

Bạn bè và đồng nghiệp thoải mái đưa ra những ý kiến để bạn bỏ ngoài tai. Thỉnh thoảng các trader nói với tôi rằng họ có một setup tuyệt vời và muốn thảo luận cùng tôi. Tôi luôn khiến họ tức giận khi nói rằng mình không quan tâm. Họ lập tức nhìn nhận tôi là người ích kỷ, cứng đầu và bảo thủ; khi nói đến trading, tôi có tất cả những đặc điểm đó và có lẽ còn nhiều hơn thế. Những kỹ năng giúp bạn kiếm tiền thường bị người ngoài nghề xem là khuyết điểm. Tại sao tôi không còn đọc sách hoặc bài viết về trading, hay trao đổi với các trader khác về ý tưởng của họ? Như đã nói, chart cho tôi biết mọi điều cần biết và bất kỳ thông tin nào khác đều là yếu tố gây xao nhãng. Vài người đã bị xúc phạm bởi thái độ của tôi, nhưng tôi nghĩ một phần nguyên nhân là tôi từ chối thứ họ giới thiệu như một điều hữu ích cho tôi, trong khi thực tế họ đang trao đi với hy vọng tôi sẽ đáp lại bằng một chút chỉ dẫn. Họ trở nên thất vọng và tức giận khi tôi nói mình không muốn nghe về kỹ thuật trading của bất kỳ ai khác. Tôi nói với họ rằng ngay cả kỹ thuật của bản thân tôi còn chưa thành thạo và có lẽ sẽ không bao giờ thành thạo hoàn toàn, nhưng tôi tin chắc mình sẽ kiếm được nhiều tiền hơn rất nhiều bằng cách hoàn thiện những gì đã biết thay vì cố đưa các phương pháp không dựa trên price action vào hoạt động trading. Tôi hỏi họ rằng nếu James Galway tặng Yo-Yo Ma một cây sáo đẹp và khăng khăng rằng Ma phải bắt đầu học thổi sáo vì Galway kiếm được rất nhiều tiền nhờ chơi sáo, Ma có nên nhận lời không? Rõ ràng là không. Ma nên tiếp tục chơi cello, và nhờ làm vậy ông sẽ kiếm được nhiều tiền hơn rất nhiều so với việc bắt đầu chơi thêm sáo. Tôi không phải Galway hay Ma, nhưng khái niệm ở đây là như nhau. Price action là nhạc cụ duy nhất tôi muốn chơi, và tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng mình sẽ kiếm được nhiều tiền hơn rất nhiều nhờ làm chủ nó thay vì kết hợp các ý tưởng từ những trader thành công khác.

Chính các chart, chứ không phải chuyên gia trên truyền hình, sẽ cho bạn biết chính xác các institution đang diễn giải tin tức như thế nào.

Hôm qua, earnings theo quý của Costco tăng 32 phần trăm và cao hơn kỳ vọng của các analyst (xem Hình I.2). COST gap up tại open, test gap ở bar đầu tiên rồi tăng hơn một đô la trong 20 phút. Sau đó, nó từ từ đi xuống để test close của ngày hôm qua. Nó có hai rally phá vỡ các bear trend line, và cả hai đều thất bại. Điều này tạo ra một double top (bar 2 và 3) bear flag hoặc triple top (bar 1, 2 và 3), rồi thị trường lao xuống $3, thấp hơn low của ngày trước. Nếu không biết báo cáo, bạn đã short tại những failed bear trend line break ở bar 2 và 3, rồi sell thêm bên dưới bar 4, vốn là một pullback theo sau breakout xuống dưới low của ngày hôm qua. Bạn đã reverse sang long tại big reversal bar ở bar 5; đây là nỗ lực thứ hai nhằm reverse breakout xuống dưới low của ngày hôm qua và là một climactic reversal của breakout qua đáy steep bear trend channel line.

Hoặc bạn có thể đã mua tại open vì báo cáo bullish, rồi lo lắng tự hỏi tại sao stock lại sụp xuống thay vì tăng vọt như các analyst trên TV dự đoán, và nhiều khả năng bạn đã thoát vị thế long trong cú lao xuống lần thứ hai tới bar 5 với khoản lỗ $2.

Bất kỳ trend nào đi được rất nhiều point chỉ trong rất ít bar—tức là có sự kết hợp giữa các bar lớn và các bar chỉ overlap nhau rất ít—cuối cùng cũng sẽ có một pullback. Những trend này có momentum mạnh đến mức xác suất nghiêng về khả năng trend tiếp diễn sau pullback rồi test extreme của trend. Thông thường extreme sẽ bị vượt qua, miễn là pullback không biến thành một trend mới theo hướng ngược lại và kéo dài vượt quá điểm bắt đầu của trend ban đầu. Nhìn chung, xác suất một pullback quay lại extreme của trend trước đó giảm đáng kể nếu pullback retrace từ 75 phần trăm trở lên. Với một pullback trong bear trend, tại thời điểm đó trader nên xem pullback như một bull trend mới thay vì pullback trong bear trend cũ. Bar 6 là một pullback khoảng 70 phần trăm, rồi thị trường test climactic bear low tại open của ngày hôm sau.

Chỉ vì thị trường gap up do một tin tức không có nghĩa nó sẽ tiếp tục đi lên, bất kể tin đó bullish đến đâu.

Như thể hiện trong Hình I.3, trước open của bar 1 trên cả hai chart Yahoo! (YHOO)—daily chart bên trái và weekly chart bên phải—tin tức đưa rằng Microsoft đang tìm cách mua lại Yahoo! với giá $31 một share, và thị trường gap up gần đến mức giá đó. Nhiều trader cho rằng thương vụ chắc chắn đã xong vì Microsoft là một trong những công ty tốt nhất thế giới và nếu muốn mua Yahoo!, họ chắc chắn có thể thực hiện được. Không chỉ vậy—Microsoft có quá nhiều tiền mặt nên nhiều khả năng sẵn lòng nâng giá chào mua nếu cần. Nhưng CEO của Yahoo! nói rằng công ty ông đáng giá gần $40 một share hơn, còn Microsoft không bao giờ đưa ra đề nghị mới. Thương vụ từ từ tan biến, cùng với giá Yahoo!. Đến tháng Mười, Yahoo! thấp hơn 20 phần trăm so với mức giá trước khi thương vụ được công bố và thấp hơn 50 phần trăm so với ngày công bố, rồi tiếp tục giảm. Vậy là đủ thấy ý nghĩa của strong fundamentals và lời đề nghị thâu tóm từ một serious suitor. Đối với price action trader, một up move khổng lồ trong bear market có lẽ chỉ là bear flag, trừ khi theo sau move đó là một chuỗi higher low và higher high. Sau nó có thể là bull flag rồi rally thêm, nhưng cho đến khi bull trend được xác nhận, bạn phải nhận thức rằng weekly trend lớn hơn quan trọng hơn.

Hình I.3: Thị trường có thể giảm khi có tin tức bullish

Điều duy nhất đúng như vẻ bề ngoài của nó là chart. Nếu không thể hiểu chart đang nói gì, đừng trade. Hãy chờ sự rõ ràng. Nó luôn xuất hiện. Nhưng một khi đã rõ ràng, bạn phải đặt trade, chấp nhận risk và tuân theo plan của mình. Đừng chuyển xuống chart 1 minute rồi siết chặt stop, vì bạn sẽ thua. Vấn đề của chart 1 minute là nó cám dỗ bạn bằng cách đưa ra rất nhiều entry với bar nhỏ hơn và do đó risk nhỏ hơn. Tuy nhiên, bạn sẽ không thể thực hiện tất cả mà sẽ cherry-pick, và điều đó sẽ giết chết account của bạn vì bạn chắc chắn sẽ chọn quá nhiều quả anh đào hỏng. Khi enter dựa trên chart 5 minute, trade của bạn được xây dựng từ phân tích chart 5 minute mà hoàn toàn không biết chart 1 minute trông như thế nào. Vì vậy, bạn phải dựa vào stop và target trên khung five-minute, đồng thời chấp nhận thực tế rằng chart 1 minute sẽ thường xuyên đi ngược bạn và chạm một one-minute stop. Nếu theo dõi chart 1 minute, bạn sẽ không dành toàn bộ sự chú ý cho chart 5 minute, và một trader giỏi sẽ lấy tiền từ account của bạn rồi chuyển vào account của anh ta. Nếu muốn cạnh tranh, bạn phải giảm thiểu mọi yếu tố gây xao nhãng và mọi input ngoài những gì có trên chart trước mặt, đồng thời tin rằng làm được như vậy bạn sẽ kiếm rất nhiều tiền. Nó có vẻ không thật nhưng lại rất thật. Đừng bao giờ hoài nghi điều đó. Chỉ cần giữ mọi thứ đơn giản và tuân theo các rule đơn giản của mình. Làm một điều đơn giản một cách nhất quán là việc cực kỳ khó, nhưng theo tôi đó là cách trading tốt nhất. Cuối cùng, khi trader ngày càng hiểu rõ price action, trading sẽ bớt căng thẳng rất nhiều và thực ra trở nên khá nhàm chán, nhưng lại sinh lời hơn nhiều.

Mặc dù tôi không bao giờ đánh bạc (vì sự kết hợp giữa odds, risk và reward bất lợi cho tôi, và tôi không bao giờ muốn cược ngược lại toán học), trading vẫn có một số điểm tương đồng với đánh bạc, đặc biệt trong suy nghĩ của những người không trade. Đánh bạc là trò chơi may rủi, nhưng tôi muốn giới hạn định nghĩa ở những tình huống mà odds hơi bất lợi cho bạn và theo thời gian bạn sẽ thua. Tại sao lại giới hạn như vậy? Bởi nếu không, mọi khoản đầu tư đều là đánh bạc vì lúc nào cũng có yếu tố may mắn và risk mất trắng, ngay cả khi bạn mua bất động sản đầu tư, mua nhà, khởi nghiệp, mua blue-chip stock hay thậm chí mua Treasury bond (chính phủ có thể chọn phá giá đồng đô la để giảm quy mô thực của khoản nợ, và khi làm vậy, purchasing power của số đô la bạn nhận lại từ các bond đó sẽ thấp hơn rất nhiều so với lúc mua).

Một số trader sử dụng game theory đơn giản và tăng position size sau một hoặc nhiều losing trade (cách này được gọi là phương pháp martingale trong trading). Những người đếm bài blackjack rất giống trading range trader. Người đếm bài cố xác định thời điểm toán học đã đi quá xa theo một hướng. Cụ thể, họ muốn biết khi nào những lá bài còn lại trong bộ bài có khả năng nghiêng quá nhiều về các face card. Khi phép đếm cho thấy điều này có khả năng xảy ra, họ đặt một trade (cược) dựa trên xác suất rằng số lượng face card xuất hiện sắp tới sẽ cao bất thường, qua đó làm tăng odds thắng. Trading range trader tìm kiếm thời điểm họ cho rằng thị trường đã đi quá xa theo một hướng, rồi đặt trade theo hướng ngược lại (một fade).

Tôi đã thử chơi poker online vài lần mà không dùng tiền thật để tìm ra những điểm giống và khác với trading. Tôi sớm phát hiện một điều khiến mình không thể tiếp tục: tôi thường xuyên lo âu vì sự bất công cố hữu do may mắn gây ra, và tôi không bao giờ muốn may mắn trở thành một thành phần lớn trong odds thành công của mình. Đây là khác biệt rất lớn và khiến tôi nhìn nhận đánh bạc và trading khác nhau về bản chất, bất chấp quan niệm của công chúng. Trong trading, mọi người đều được chia cùng một bộ bài nên cuộc chơi luôn công bằng; theo thời gian, bạn được tưởng thưởng hoặc bị trừng phạt hoàn toàn dựa trên kỹ năng trader của mình. Rõ ràng, đôi lúc bạn có thể trade đúng mà vẫn thua, và chuyện này có thể xảy ra vài lần liên tiếp do đường cong xác suất của mọi kết quả có thể xảy ra. Có một xác suất thực nhưng cực nhỏ rằng bạn có thể trade tốt mà vẫn thua 10, thậm chí 100 lần liên tiếp hoặc hơn; nhưng tôi không nhớ lần gần nhất mình thấy tới bốn signal tốt liên tiếp thất bại, nên đây là rủi ro tôi sẵn lòng chấp nhận. Nếu trade tốt, theo thời gian bạn sẽ kiếm được tiền vì đây là zero-sum game (ngoại trừ commission, vốn nên nhỏ nếu bạn chọn broker phù hợp). Nếu giỏi hơn phần lớn các trader khác, bạn sẽ thắng tiền của họ.

Có hai loại hình đánh bạc khác với trò may rủi thuần túy, và cả hai đều tương tự trading. Trong cả cá cược thể thao lẫn poker, người chơi cố lấy tiền của những người chơi khác thay vì của nhà cái, vì vậy họ có thể tạo ra odds có lợi cho mình nếu giỏi hơn đáng kể so với đối thủ. Tuy nhiên, “commission” họ trả có thể lớn hơn rất nhiều so với mức trader phải trả, đặc biệt trong cá cược thể thao, nơi vig thường là 10 phần trăm. Đó là lý do những tay cá cược thể thao cực kỳ thành công như Billy Walters hiếm đến vậy: họ phải giỏi hơn đối thủ ít nhất 10 phần trăm chỉ để hòa vốn. Những người chơi poker thành công phổ biến hơn, như có thể thấy qua mọi chương trình poker trên TV. Tuy nhiên, ngay cả những người chơi poker giỏi nhất cũng không kiếm được mức tiền nào có thể so sánh với những trader giỏi nhất, bởi giới hạn thực tế đối với quy mô trading của họ nhỏ hơn nhiều.

Cá nhân tôi thấy trading không căng thẳng, bởi yếu tố may mắn nhỏ đến mức không đáng cân nhắc. Tuy nhiên, trading và chơi poker có chung một điều, đó là giá trị của sự kiên nhẫn. Trong poker, bạn có thể kiếm được nhiều tiền hơn rất nhiều nếu kiên nhẫn chờ và chỉ cược vào những hand tốt nhất; trader cũng kiếm được nhiều hơn khi kiên nhẫn chờ những setup tốt nhất. Với tôi, khoảng thời gian chờ đợi kéo dài này dễ chịu hơn nhiều trong trading vì tôi có thể nhìn thấy tất cả những “lá bài” khác trong lúc thị trường chậm, và việc tìm kiếm những hiện tượng price action tinh tế mang lại sự kích thích trí tuệ.

Có một châm ngôn quan trọng trong cờ bạc, cũng đúng với mọi lĩnh vực: bạn không nên đặt cược cho đến khi có một hand tốt. Trong trading cũng vậy. Hãy chờ một setup tốt trước khi đặt trade. Nếu trade mà không có kỷ luật và không có phương pháp vững chắc, bạn đang dựa vào may mắn và hy vọng để tạo ra profits, và hoạt động trading của bạn chắc chắn là một hình thức đánh bạc.

Một so sánh đáng tiếc đến từ những người không trade, khi họ cho rằng tất cả day trader—và thực ra là tất cả market trader—đều là những con bạc nghiện ngập và vì thế mắc bệnh tâm thần. Tôi nghi rằng nhiều người thực sự nghiện, theo nghĩa họ làm việc này vì phấn khích hơn là vì profit. Họ sẵn sàng đặt những cược có xác suất thấp và mất những khoản tiền lớn vì cảm giác hưng phấn khổng lồ trong những lần hiếm hoi chiến thắng. Tuy nhiên, phần lớn trader thành công về bản chất là investor, giống như investor mua bất động sản thương mại hoặc một doanh nghiệp nhỏ. Khác biệt thực sự duy nhất so với bất kỳ loại hình đầu tư nào khác là time frame ngắn hơn và leverage lớn hơn.

Đáng tiếc, beginner thỉnh thoảng đánh bạc là chuyện phổ biến, và điều này luôn khiến họ mất tiền. Mọi trader thành công đều trade dựa trên các rule. Bất cứ khi nào trader đi chệch khỏi những rule đó vì bất kỳ lý do gì, họ đang trade dựa trên hy vọng thay vì logic và khi ấy chính là đang đánh bạc. Beginning trader thường thấy mình đánh bạc ngay sau khi chịu một vài khoản lỗ. Họ nóng lòng muốn gỡ lại để trở về trạng thái hòa vốn và sẵn sàng mạo hiểm nhằm đạt được điều đó. Họ sẽ thực hiện những trade mà bình thường không bao giờ thực hiện, bởi họ khao khát lấy lại số tiền vừa mất. Vì giờ đây họ đang thực hiện một trade mà chính họ tin là low-probability trade, và thực hiện nó do lo âu cùng buồn bã vì khoản lỗ, họ đang đánh bạc chứ không còn trading. Sau khi thua trong ván cược, họ còn cảm thấy tồi tệ hơn. Không chỉ bị lỗ nhiều hơn trong ngày, họ còn đặc biệt buồn vì phải đối mặt với thực tế rằng mình đã không đủ kỷ luật để tuân thủ system, dù biết kỷ luật là một trong những thành phần thiết yếu dẫn đến thành công.

Điều thú vị là các nhà nghiên cứu neurofinance phát hiện hình ảnh brain scan của trader ngay trước khi đặt trade không thể phân biệt với hình ảnh của người nghiện ma túy ngay trước khi dùng một liều. Họ phát hiện một hiệu ứng snowball và ham muốn tiếp tục ngày càng tăng, bất kể kết quả hành vi ra sao. Đáng tiếc, khi đối mặt với loss, trader lại chấp nhận nhiều risk hơn thay vì ít đi, thường dẫn đến cái chết của account. Không cần biết về neuroscience, Warren Buffett rõ ràng đã hiểu vấn đề này, như thể hiện trong phát biểu của ông: “Một khi đã có trí thông minh bình thường, điều bạn cần là tính khí đủ để kiểm soát những thôi thúc khiến người khác gặp rắc rối trong đầu tư.” Những trader vĩ đại kiểm soát cảm xúc và luôn tuân theo các rule của họ.

Một điểm cuối cùng về đánh bạc: con người có xu hướng tự nhiên cho rằng không gì có thể kéo dài mãi mãi và mọi hành vi đều regress toward a mean. Nếu thị trường vừa có ba hoặc bốn losing trade, chắc chắn odds sẽ nghiêng về khả năng trade tiếp theo thắng. Nó giống hệt tung đồng xu, phải không? Đáng tiếc, thị trường không vận hành như vậy. Khi thị trường đang trending, phần lớn nỗ lực reversal đều thất bại. Khi thị trường ở trong trading range, phần lớn nỗ lực breakout đều thất bại. Điều này trái ngược với tung đồng xu, nơi odds luôn là 50–50. Trong trading, odds thường ở mức 70 phần trăm hoặc cao hơn rằng những gì vừa xảy ra sẽ tiếp tục lặp đi lặp lại. Vì logic tung đồng xu, đến một lúc nào đó phần lớn trader bắt đầu cân nhắc game theory.

Kỹ thuật martingale vận hành tốt trên lý thuyết nhưng không hiệu quả trong thực tế vì xung đột giữa toán học và cảm xúc. Đó là martingale paradox. Nếu bạn tăng gấp đôi (hoặc thậm chí gấp ba) position size và reverse sau mỗi loss, về lý thuyết bạn sẽ kiếm được tiền. Mặc dù bốn loss liên tiếp không thường gặp trên chart Emini 5 minute nếu bạn chọn trade cẩn thận, chúng vẫn sẽ xảy ra, và một chuỗi từ mười hai loss trở lên cũng vậy, dù tôi không nhớ mình từng thấy trường hợp đó. Dù thế nào, nếu bạn cảm thấy thoải mái khi trade 10 contract nhưng khởi đầu chỉ với một contract và dự định tăng gấp đôi rồi reverse sau mỗi loss, bốn loss liên tiếp sẽ buộc bạn dùng 16 contract cho trade tiếp theo, còn tám loss liên tiếp sẽ đòi hỏi 256 contract! Khả năng cao bạn sẽ không đặt một trade lớn hơn comfort zone của mình sau bốn loss trở lên. Bất kỳ ai ban đầu chỉ sẵn lòng trade một contract sẽ không bao giờ sẵn lòng trade 16 hoặc 256 contract, và bất kỳ ai sẵn lòng trade 256 contract sẽ không bao giờ sẵn lòng khởi động chiến lược này chỉ với một contract. Đây là vấn đề toán học cố hữu, không thể vượt qua của phương pháp này.

Vì trading vừa thú vị vừa có tính cạnh tranh, con người thường tự nhiên so sánh nó với các trò chơi; và vì có đặt cược, đánh bạc thường là điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí. Tuy nhiên, phép so sánh phù hợp hơn rất nhiều là cờ vua. Trong cờ vua, bạn có thể nhìn thấy chính xác đối thủ đang làm gì, không giống trò chơi bài nơi bạn không biết những lá bài của đối phương. Ngoài ra, trong poker, những lá bài bạn được chia hoàn toàn do ngẫu nhiên, nhưng trong cờ vua, vị trí các quân cờ hoàn toàn là kết quả từ quyết định của bạn. Trong cờ vua không có gì bị che giấu, và kết quả đơn giản được quyết định bởi kỹ năng của bạn so với đối thủ. Khả năng đọc những gì ở trước mặt và xác định điều có khả năng xảy ra tiếp theo là tài sản lớn đối với cả người chơi cờ vua lẫn trader.

Người ngoài nghề cũng lo ngại khả năng xảy ra crash, và vì risk đó, họ lại liên hệ trading với đánh bạc. Crash là sự kiện rất hiếm trên daily chart. Những người không trade này sợ rằng mình không thể hành động hiệu quả trong các sự kiện mang tính cảm xúc cực độ. Mặc dù thuật ngữ crash thường dành cho daily chart và được áp dụng cho bear market giảm khoảng 20 phần trăm trở lên trong một time frame ngắn, như vào năm 1927 và 1987, sẽ hữu ích hơn nếu chỉ xem nó là một chart pattern khác, bởi cách nhìn này loại bỏ cảm xúc và giúp trader tuân thủ rule. Nếu loại bỏ trục thời gian và giá khỏi chart rồi chỉ tập trung vào price action, trên intraday chart thường xuyên xuất hiện những market move không thể phân biệt với pattern trong một crash kinh điển. Nếu vượt qua được cảm xúc, bạn có thể kiếm tiền từ crash, bởi cũng như mọi chart khác, chúng hiển thị price action có thể trade.

Hình I.4 (từ TradeStation) cho thấy thị trường có thể crash trên bất kỳ time frame nào. Hình bên trái là daily chart của GE trong crash năm 1987, hình giữa là chart 5 minute của COST sau một báo cáo earnings rất mạnh, và hình bên phải là chart Emini 1 minute. Mặc dù thuật ngữ crash hầu như chỉ được dùng để nói đến một đợt sell-off từ 20 phần trăm trở lên trong thời gian ngắn trên daily chart, và trong một trăm năm qua chỉ có hai lần nó được sử dụng rộng rãi, price action trader tìm kiếm hình dạng, và cùng một crash pattern lại phổ biến trên intraday chart. Vì crash rất phổ biến trong intraday, không cần áp dụng thuật ngữ này, bởi từ góc độ trading chúng chỉ là một bear swing có price action có thể trade.

Hình I.4: Crash thường xuyên xảy ra

Nhân tiện, khái niệm rằng cùng một pattern xuất hiện trên mọi time frame có nghĩa các nguyên lý của fractal mathematics có thể hữu ích khi thiết kế trading system. Nói cách khác, mọi pattern đều có thể chia nhỏ thành các price action pattern tiêu chuẩn trên chart thuộc time frame nhỏ hơn, và vì thế các quyết định trading dựa trên phân tích price action có hiệu quả trên mọi time frame.

How to Read These Books

Tôi đã cố sắp xếp nội dung trong ba cuốn sách theo một trình tự hữu ích cho trader.

Book 1: Trading Price Action Trends: Technical Analysis of Price Charts Bar by Bar for the Serious Trader

  • Những kiến thức cơ bản về price action và candle. Thị trường hoặc đang trending hoặc ở trong trading range. Điều đó đúng với mọi time frame, xuống đến cả một bar riêng lẻ, vốn có thể là trend bar hoặc nontrend bar (doji).
  • Trend line và trend channel line. Đây là những công cụ cơ bản có thể dùng để làm nổi bật sự tồn tại của trend và trading range.
  • Trend. Đây là những thành phần dễ thấy và sinh lời nhất trên mọi chart.

Book 2: Trading Price Action Trading Ranges: Technical Analysis of Price Charts Bar by Bar for the Serious Trader

  • Breakout. Đây là quá trình chuyển tiếp từ trading range sang trend.
  • Gap. Breakout thường tạo ra một số loại intraday gap có thể hữu ích cho trader, nhưng những gap này chỉ hiện rõ nếu bạn sử dụng một định nghĩa rộng.
  • Magnet, support và resistance. Một khi thị trường breakout và bắt đầu move, nó thường bị hút về những mức giá nhất định, và các magnet này thường thiết lập reversal.
  • Pullback. Đây là quá trình chuyển tiếp từ trend sang trading range tạm thời.
  • Trading range. Đây là những vùng mà price activity phần lớn đi ngang, nhưng mỗi leg là một trend nhỏ và toàn bộ trading range thường là một pullback trong trend trên chart thuộc time frame cao hơn.
  • Quản lý order và trade. Trader cần càng nhiều công cụ càng tốt và cần hiểu scalping, swing trading, scaling in và scaling out khỏi trade, cũng như cách entry và exit bằng stop order và limit order.
  • Toán học trong trading. Mọi hoạt động trading đều có nền tảng toán học, và khi hiểu vì sao mọi thứ diễn biến theo cách đó, trading trở nên bớt căng thẳng rất nhiều.

Book 3: Trading Price Action Reversals: Technical Analysis of Price Charts Bar by Bar for the Serious Trader

  • Trend reversal. Loại này mang lại risk/reward ratio tốt nhất trong mọi loại trade, nhưng vì phần lớn đều thất bại nên trader cần chọn lọc.
  • Day trading. Giờ đây khi đã hiểu price action, độc giả có thể dùng nó để trade. Các chương về day trading, trading trong giờ đầu tiên và những ví dụ chi tiết sẽ chỉ ra cách làm.
  • Daily, weekly và monthly chart. Các chart này có những price action setup rất đáng tin cậy.
  • Option. Price action có thể được sử dụng hiệu quả trong option trading.
  • Những trade tốt nhất. Một số price action setup đặc biệt tốt, và beginner nên tập trung vào chúng.
  • Hướng dẫn. Có nhiều khái niệm quan trọng có thể giúp trader duy trì sự tập trung.

Nếu gặp một thuật ngữ lạ, bạn sẽ có thể tìm thấy định nghĩa của nó trong List of Terms ở đầu sách.

Một số sách hiển thị chart theo time zone của nơi đặt thị trường, nhưng giờ đây khi trading đã mang tính điện tử và toàn cầu, điều đó không còn phù hợp. Vì tôi trade ở California, các chart sử dụng Pacific standard time (PST). Tất cả chart đều được tạo bằng TradeStation. Vì mỗi chart có hàng chục sự kiện price action đáng chú ý chưa được đề cập, tôi mô tả nhiều sự kiện trong số đó ngay sau phần thảo luận chính, dưới mục “Deeper Discussion of This Chart.” Mặc dù bạn có thể thấy phần này không thể hiểu nổi trong lần đọc đầu tiên, bạn sẽ hiểu khi đọc sách lần thứ hai. Bạn càng thấy nhiều biến thể của các pattern tiêu chuẩn, bạn càng có khả năng nhận ra chúng khi chúng đang phát triển trong real time. Tôi cũng thường chỉ ra một hoặc hai trade chính trên chart. Nếu muốn, bạn có thể bỏ qua phần thảo luận bổ sung đó trong lần đọc đầu tiên, rồi xem lại các chart sau khi đọc xong sách, khi phần thảo luận sâu hơn đã trở nên dễ hiểu. Vì nhiều setup là ví dụ xuất sắc cho các khái niệm quan trọng dù chưa được đề cập, nhiều độc giả sẽ đánh giá cao việc có sẵn phần thảo luận nếu họ đọc lại sách.

Tại thời điểm xuất bản, tôi đăng bài phân tích Emini vào cuối mỗi ngày và cung cấp phần đọc chart theo real time trong trading day tại www.brookspriceaction.com.

Tất cả chart trong ba cuốn sách sẽ có định dạng lớn hơn trên trang của John Wiley & Sons tại www.wiley.com/go/tradingtrends. (Xem trang “About the Website” ở cuối sách.) Bạn có thể phóng to để xem chi tiết, tải chart xuống hoặc in chúng. Có bản in của chart khi phần mô tả kéo dài nhiều trang sẽ giúp bạn theo dõi phần bình luận dễ hơn.

Dưới đây là một số đặc điểm thường thấy trong strong trend:

  • Có một gap opening lớn trong ngày.
  • Có các high và low tạo trend (swing).
  • Phần lớn bar là trend bar theo hướng của trend.
  • Body của các bar liên tiếp overlap rất ít. Ví dụ, trong bull spike, nhiều bar có low nằm tại hoặc chỉ thấp hơn close của bar trước một tick. Một số bar có low nằm đúng tại, chứ không thấp hơn, close của bar trước; vì thế trader cố mua bằng limit order tại close của bar trước không được filled và phải mua cao hơn.
  • Có những bar không có tail hoặc chỉ có tail nhỏ ở cả hai hướng, cho thấy sự khẩn trương. Ví dụ, trong bull trend, nếu một bull trend bar open tại low tick rồi trend lên, trader đã nóng lòng mua ngay khi bar trước đóng cửa. Nếu nó close tại hoặc gần high tick, trader đã tiếp tục mua mạnh với kỳ vọng người mua mới sẽ vào ngay sau khi bar đóng cửa. Họ sẵn sàng mua khi bar tiến vào close vì sợ rằng nếu chờ bar đóng cửa, có thể phải mua cao hơn một hoặc hai tick.
  • Thỉnh thoảng xuất hiện gap giữa các body (ví dụ, open của một bar có thể nằm trên close của bar trước trong bull trend).
  • Một breakout gap xuất hiện dưới dạng strong trend bar tại điểm bắt đầu trend.
  • Measuring gap xuất hiện tại nơi breakout test không overlap breakout point. Ví dụ, pullback từ bull breakout không giảm xuống dưới high của bar nơi breakout xảy ra.
  • Micro measuring gap xuất hiện tại nơi có một strong trend bar và một gap giữa bar trước nó với bar sau nó. Ví dụ, nếu low của bar sau một strong bull trend bar trong bull trend nằm tại hoặc trên high của bar trước trend bar, đây là một gap, một breakout test và là dấu hiệu sức mạnh.
  • Không xuất hiện climax lớn.
  • Không có nhiều bar lớn (kể cả large trend bar). Thường thì những trend bar lớn nhất là countertrend, gài bẫy trader tìm kiếm countertrend trade và khiến họ bỏ lỡ with-trend trade. Countertrend setup gần như luôn trông đẹp hơn with-trend setup.
  • Không xảy ra trend channel line overshoot đáng kể, và những overshoot nhỏ chỉ dẫn đến sideways correction.
  • Có sideways correction sau trend line break.
  • Xuất hiện failed wedge và các failed reversal khác.
  • Có một chuỗi 20 moving average gap bar (20 bar liên tiếp trở lên không chạm moving average, được thảo luận trong book 2).
  • Có rất ít, nếu có, countertrend trade sinh lời.
  • Pullback nhỏ, không thường xuyên và phần lớn đi ngang. Ví dụ, nếu average range của Emini là 12 point, mọi pullback nhiều khả năng đều dưới ba hoặc bốn point, và thị trường thường đi năm bar trở lên mà không có pullback.
  • Có cảm giác khẩn trương. Bạn thấy mình chờ qua vô số bar để có một with-trend pullback tốt nhưng nó không bao giờ đến, trong khi thị trường vẫn chậm rãi tiếp tục trend.
  • Pullback có setup mạnh. Ví dụ, high 1 và high 2 pullback trong bull trend có strong bull reversal bar làm signal bar.
  • Trong những trend mạnh nhất, pullback thường có weak signal bar, khiến nhiều trader không vào lệnh và buộc họ phải chase thị trường. Ví dụ, trong bear trend, signal bar cho một low 2 short thường là small bull bar nằm trong bull spike kéo dài hai hoặc ba bar, và một số entry bar là outside down bar. Nó có “bất kỳ thứ gì” đang trending: close, high, low hoặc body.
  • Các two-legged pullback lặp lại đang thiết lập with-trend entry.
  • Không có hai trend bar liên tiếp close ở phía đối diện của moving average.
  • Trend đi rất xa và phá vỡ một số resistance level như moving average, prior swing high và trend line, mỗi mức đều bị vượt qua nhiều tick.
  • Những nỗ lực reversal dưới dạng spike ngược trend không có follow-through, thất bại và trở thành flag theo hướng trend.

Bull breakout càng có nhiều đặc điểm sau đây, khả năng breakout mạnh càng cao:

  • Breakout bar có bull trend body lớn và tail nhỏ hoặc không có tail. Bar càng lớn, khả năng breakout thành công càng cao.
  • Nếu volume của large breakout bar gấp 10 đến 20 lần average volume của các bar gần đây, khả năng có follow-through buying và một measured move tiềm năng sẽ tăng lên.
  • Spike đi rất xa, kéo dài vài bar và phá vỡ một số resistance level như moving average, prior swing high và trend line, mỗi mức đều bị vượt qua nhiều tick.
  • Khi bar đầu tiên của breakout đang hình thành, nó dành phần lớn thời gian ở gần high và pullback nhỏ (dưới một phần tư chiều cao của bar đang lớn dần).
  • Có cảm giác khẩn trương. Bạn cảm thấy mình phải mua nhưng lại muốn có pullback, vậy mà pullback không bao giờ đến.
  • Hai hoặc ba bar tiếp theo cũng có bull body ít nhất bằng kích thước trung bình của các bull body và bear body gần đây. Ngay cả khi body tương đối nhỏ và tail nổi bật, nếu follow-through bar (bar sau initial breakout bar) lớn, odds trend tiếp tục sẽ cao hơn.
  • Spike phát triển đến năm đến 10 bar mà không pullback quá khoảng một bar.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike có low nằm tại hoặc chỉ thấp hơn close của bar trước một tick.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike có open nằm trên close của bar trước.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike close tại high của bar hoặc chỉ thấp hơn high một tick.
  • Low của bar sau bull trend bar nằm tại hoặc trên high của bar trước bull trend bar, tạo thành micro gap, đây là dấu hiệu sức mạnh. Đôi khi những gap này trở thành measuring gap. Mặc dù điều đó không quan trọng đối với trading, theo Elliott Wave Theory, có lẽ chúng đại diện cho khoảng trống giữa high của Elliott Wave 1 trên time frame nhỏ hơn và một Wave 4 pullback; hai phần này có thể chạm nhưng không overlap.
  • Context tổng thể khiến breakout có khả năng xảy ra, chẳng hạn trend tiếp diễn sau pullback, hoặc một higher low hay lower low test bear low sau cú break mạnh lên trên bear trend line.
  • Gần đây thị trường đã có một số strong bull trend day.
  • Buying pressure đang tăng trong trading range, thể hiện qua nhiều large bull trend bar, và bull trend bar rõ ràng nổi bật hơn bear trend bar trong range.
  • Pullback đầu tiên chỉ xảy ra sau ba bar breakout trở lên.
  • Pullback đầu tiên chỉ kéo dài một hoặc hai bar, và nó theo sau một bar không phải strong bear reversal bar.
  • Pullback đầu tiên không chạm breakout point và không chạm breakeven stop (entry price).
  • Breakout reverse nhiều close và high gần đây. Ví dụ, khi có bear channel và một large bull bar hình thành, breakout bar này có high và close nằm trên high và close của năm, thậm chí 20 bar trở lên. Việc close của bull bar reverse một số lượng lớn bar là dấu hiệu mạnh hơn so với high reverse số bar tương tự.

Bear breakout càng có nhiều đặc điểm sau đây, khả năng breakout mạnh càng cao:

  • Breakout bar có bear trend body lớn và tail nhỏ hoặc không có tail. Bar càng lớn, khả năng breakout thành công càng cao.
  • Nếu volume của large breakout bar gấp 10 đến 20 lần average volume của các bar gần đây, khả năng có follow-through selling và một measured move down tiềm năng sẽ tăng lên.
  • Spike đi rất xa, kéo dài vài bar và phá vỡ một số support level như moving average, prior swing low và trend line, mỗi mức đều bị xuyên qua nhiều tick.
  • Khi bar đầu tiên của breakout đang hình thành, nó dành phần lớn thời gian ở gần low và pullback nhỏ (dưới một phần tư chiều cao của bar đang lớn dần).
  • Có cảm giác khẩn trương. Bạn cảm thấy mình phải sell nhưng lại muốn có pullback, vậy mà pullback không bao giờ đến.
  • Hai hoặc ba bar tiếp theo cũng có bear body ít nhất bằng kích thước trung bình của các bull body và bear body gần đây. Ngay cả khi body tương đối nhỏ và tail nổi bật, nếu follow-through bar (bar sau initial breakout bar) lớn, odds trend tiếp tục sẽ cao hơn.
  • Spike phát triển đến năm đến 10 bar mà không pullback quá khoảng một bar.
  • Khi bear breakout đi xuống dưới một prior significant swing low, move xuống dưới low đi đủ xa để scalper kiếm được profit nếu người đó entry bằng stop ở một tick dưới swing low ấy.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike có high nằm tại hoặc chỉ cao hơn close của bar trước một tick.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike có open nằm dưới close của bar trước.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike close tại low của nó hoặc chỉ cao hơn low một tick.
  • High của bar sau bear trend bar nằm tại hoặc dưới low của bar trước bear trend bar, tạo thành micro gap, đây là dấu hiệu sức mạnh. Đôi khi những gap này trở thành measuring gap. Mặc dù điều đó không quan trọng đối với trading, có lẽ chúng đại diện cho khoảng trống giữa low của Elliott wave 1 trên time frame nhỏ hơn và một wave 4 pullback; hai phần này có thể chạm nhưng không overlap.
  • Context tổng thể khiến breakout có khả năng xảy ra, chẳng hạn trend tiếp diễn sau pullback, hoặc một lower high hay higher high test bull high sau cú break mạnh xuống dưới bull trend line.
  • Gần đây thị trường đã có một số strong bear trend day.
  • Selling pressure đã tăng trong trading range, thể hiện qua nhiều large bear trend bar, và bear trend bar rõ ràng nổi bật hơn bull trend bar trong range.
  • Pullback đầu tiên chỉ xảy ra sau ba bar breakout trở lên.
  • Pullback đầu tiên chỉ kéo dài một hoặc hai bar, và nó theo sau một bar không phải strong bull reversal bar.
  • Pullback đầu tiên không chạm breakout point và không chạm breakeven stop (entry price).
  • Breakout reverse nhiều close và low gần đây. Ví dụ, khi có bull channel và một large bear bar hình thành, breakout bar này có low và close nằm dưới low và close của năm, thậm chí 20 bar trở lên. Việc close của bear bar reverse một số lượng lớn bar là dấu hiệu mạnh hơn so với low của nó reverse số bar tương tự.

Signal bar được biết đến nhiều nhất là reversal bar, và điều kiện tối thiểu của một bull reversal bar là close nằm trên open (một bull body) hoặc close nằm trên midpoint. Những bull reversal bar tốt nhất có nhiều hơn một trong các đặc điểm sau:

  • Open gần hoặc dưới close của bar trước, còn close nằm trên open và trên close của bar trước.
  • Lower tail dài khoảng một phần ba đến một phần hai chiều cao bar, còn upper tail nhỏ hoặc không tồn tại.
  • Không overlap nhiều với bar trước hoặc các bar trước.
  • Bar sau signal bar không phải doji inside bar mà là một strong entry bar (một bull trend bar có body tương đối lớn và tail nhỏ).
  • Close reverse (đóng cửa phía trên) close và high của nhiều hơn một bar.

Điều kiện tối thiểu của một bear reversal bar là close nằm dưới open (một bear body) hoặc close nằm dưới midpoint. Những bear reversal bar tốt nhất có:

  • Open gần hoặc trên close của bar trước, còn close nằm thấp hơn nhiều so với close của bar trước.
  • Upper tail dài khoảng một phần ba đến một phần hai chiều cao bar, còn lower tail nhỏ hoặc không tồn tại.
  • Không overlap nhiều với bar trước hoặc các bar trước.
  • Bar sau signal bar không phải doji inside bar mà là một strong entry bar (một bear trend bar có body tương đối lớn và tail nhỏ).
  • Close reverse (đóng cửa phía dưới) close và extreme của nhiều hơn một bar.

Dưới đây là một số đặc điểm thường gặp ở strong bull reversal:

  • Có một strong bull reversal bar với bull trend body lớn và tail nhỏ hoặc không có tail.
  • Hai hoặc ba bar tiếp theo cũng có bull body ít nhất bằng kích thước trung bình của các bull body và bear body gần đây.
  • Spike phát triển đến năm đến 10 bar mà không pullback quá khoảng một bar, đồng thời reverse nhiều bar, swing high và bear flag của bear trend trước đó.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike có low nằm tại hoặc chỉ thấp hơn close của bar trước một tick.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike có open nằm trên close của bar trước.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike close tại high của bar hoặc chỉ thấp hơn high một tick.
  • Context tổng thể khiến reversal có khả năng xảy ra, chẳng hạn một higher low hay lower low test bear low sau cú break mạnh lên trên bear trend line.
  • Pullback đầu tiên chỉ xảy ra sau ba bar trở lên.
  • Pullback đầu tiên chỉ kéo dài một hoặc hai bar, và nó theo sau một bar không phải strong bear reversal bar.
  • Pullback đầu tiên không chạm breakeven stop (entry price).
  • Spike đi rất xa và phá vỡ một số resistance level như moving average, prior swing high và trend line, mỗi mức đều bị vượt qua nhiều tick.
  • Khi bar đầu tiên của reversal đang hình thành, nó dành phần lớn thời gian ở gần high và pullback nhỏ hơn một phần tư chiều cao của bar đang lớn dần.
  • Có cảm giác khẩn trương. Bạn cảm thấy mình phải mua nhưng lại muốn có pullback, vậy mà pullback không bao giờ đến.
  • Signal là nỗ lực reverse thứ hai trong vài bar gần đây (một second signal).
  • Reversal bắt đầu như một reversal từ overshoot của trend channel line thuộc trend cũ.
  • Nó đang reverse một significant swing high hoặc low (ví dụ, nó break xuống dưới một prior swing low mạnh rồi reverse lên).
  • High 1 và high 2 pullback có strong bull reversal bar làm signal bar.
  • Nó có “bất kỳ thứ gì” đang trending: close, high, low hoặc body.
  • Pullback nhỏ và đi ngang.
  • Trước đó đã có các break của những bear trend line cũ hơn (đây không phải dấu hiệu đầu tiên của bullish strength).
  • Pullback để test bear low thiếu momentum, thể hiện qua việc có nhiều bar overlap và nhiều bar trong đó là bull trend bar.
  • Pullback test bear low thất bại tại moving average hoặc bear trend line cũ.
  • Breakout reverse nhiều close và high gần đây. Ví dụ, khi có bear channel và một large bull bar hình thành, breakout bar này có high và close nằm trên high và close của năm, thậm chí 20 bar trở lên. Việc close của bull bar reverse một số lượng lớn bar là dấu hiệu mạnh hơn so với chỉ high của nó reverse số bar tương tự.

Dưới đây là một số đặc điểm thường gặp ở strong bear reversal:

  • Một strong bear reversal bar với bear trend body lớn và tail nhỏ hoặc không có tail.
  • Hai hoặc ba bar tiếp theo cũng có bear body ít nhất bằng kích thước trung bình của các bull body và bear body gần đây.
  • Spike phát triển đến năm đến 10 bar mà không pullback quá khoảng một bar, đồng thời reverse nhiều bar, swing low và bull flag của bull trend trước đó.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike có high nằm tại hoặc chỉ cao hơn close của bar trước một tick.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike có open nằm dưới close của bar trước.
  • Một hoặc nhiều bar trong spike close tại low của nó hoặc chỉ cao hơn low một tick.
  • Context tổng thể khiến reversal có khả năng xảy ra, chẳng hạn một lower high hay higher high test bull high sau cú break mạnh xuống dưới bull trend line.
  • Pullback đầu tiên chỉ xảy ra sau ba bar trở lên.
  • Pullback đầu tiên chỉ kéo dài một hoặc hai bar, và nó theo sau một bar không phải strong bull reversal bar.
  • Pullback đầu tiên không chạm breakeven stop (entry price).
  • Spike đi rất xa và phá vỡ một số support level như moving average, prior swing low và trend line, mỗi mức đều bị xuyên qua nhiều tick.
  • Khi bar đầu tiên của reversal đang hình thành, nó dành phần lớn thời gian ở gần low và pullback nhỏ hơn một phần tư chiều cao của bar đang lớn dần.
  • Có cảm giác khẩn trương. Bạn cảm thấy mình phải sell nhưng lại muốn có pullback, vậy mà pullback không bao giờ đến.
  • Signal là nỗ lực reverse thứ hai trong vài bar gần đây (một second signal).
  • Reversal bắt đầu như một reversal từ overshoot của trend channel line thuộc trend cũ.
  • Nó đang reverse tại một vùng significant swing high hoặc low (ví dụ, break lên trên một prior swing high mạnh rồi reverse xuống).
  • Low 1 và low 2 pullback có strong bear reversal bar làm signal bar.
  • Nó có “bất kỳ thứ gì” đang trending: close, high, low hoặc body.
  • Pullback nhỏ và đi ngang.
  • Trước đó đã có các break của những bull trend line cũ hơn (đây không phải dấu hiệu đầu tiên của bearish strength).
  • Pullback để test bull high thiếu momentum, thể hiện qua việc có nhiều bar overlap và nhiều bar trong đó là bear trend bar.
  • Pullback test bull high thất bại tại moving average hoặc bull trend line cũ.
  • Breakout reverse nhiều close và low gần đây. Ví dụ, khi có bull channel và một large bear bar hình thành, breakout bar này có low và close nằm dưới low và close của năm, thậm chí 20 bar trở lên. Việc close của bear bar reverse một số lượng lớn bar là dấu hiệu mạnh hơn so với chỉ low của nó reverse số bar tương tự.

Bar Counting Basics: High 1, High 2, Low 1, Low 2

Một dấu hiệu đáng tin cậy cho thấy pullback trong bull trend hoặc trading range đã kết thúc là khi high của bar hiện tại vượt ít nhất một tick lên trên high của bar trước. Điều này dẫn đến một khái niệm hữu ích là đếm số lần hiện tượng ấy xảy ra, được gọi là bar counting. Trong một move đi ngang hoặc đi xuống thuộc bull trend hay trading range, bar đầu tiên có high cao hơn high của bar trước là high 1; điều này kết thúc leg đầu tiên của move đi ngang hoặc đi xuống, mặc dù leg này có thể trở thành một leg nhỏ trong pullback lớn hơn. Nếu thị trường không chuyển thành bull swing mà thay vào đó tiếp tục đi ngang hoặc đi xuống, hãy gọi lần tiếp theo xuất hiện một bar có high cao hơn high của bar trước là high 2; nó kết thúc leg thứ hai.

High 2 trong bull trend và low 2 trong bear trend thường được gọi là ABC correction, trong đó leg đầu tiên là A, sự đổi hướng tạo nên high 1 entry hoặc low 1 entry là B, và leg cuối cùng của pullback là C. Breakout khỏi C là high 2 entry bar trong bull ABC correction và low 2 entry bar trong bear ABC correction.

Nếu bull pullback kết thúc sau leg thứ ba, buy setup là high 3 và thường là một dạng wedge bull flag. Khi bear rally kết thúc ở leg thứ ba, đó là low 3 sell setup và thường là wedge bear flag.

Một số bull pullback có thể phát triển thêm và tạo thành high 4. Khi high 4 hình thành, đôi lúc nó bắt đầu bằng high 2 và high 2 này không đi được xa. Thay vào đó, theo sau nó là hai leg down nữa và một high 2 thứ hai, còn toàn bộ move đơn giản là một high 2 trên time frame cao hơn. Vào những lúc khác, high 4 là một small spike and channel bear trend, trong đó push down thứ nhất hoặc thứ hai là bear spike và những push down tiếp theo nằm trong bear channel. Nếu high 4 không thể làm trend tiếp diễn và thị trường giảm xuống dưới low của nó, nhiều khả năng thị trường không còn hình thành pullback trong bull trend mà thay vào đó đang ở trong bear swing. Hãy chờ thêm price action diễn ra trước khi đặt trade.

Khi bear trend hoặc sideways market đang correction đi ngang hoặc đi lên, bar đầu tiên có low thấp hơn low của bar trước là low 1, kết thúc leg đầu tiên của correction, vốn có thể ngắn đến mức chỉ gồm một bar đó. Những lần xuất hiện tiếp theo được gọi là low 2, low 3 và low 4 entry. Nếu low 4 thất bại (một bar vượt lên trên high của low 4 signal bar sau khi low 4 short được triggered), price action cho thấy bear đã mất quyền kiểm soát và hoặc thị trường sẽ trở thành two-sided, với bull và bear luân phiên kiểm soát, hoặc bull sẽ giành quyền kiểm soát. Trong mọi trường hợp, cách tốt nhất để bear chứng minh rằng họ đã giành lại quyền kiểm soát là phá vỡ bull trend line với momentum mạnh.