Chuyển tới nội dung chính

Part II — Magnets: Support and Resistance

Có hai loại magnets: support và resistance. Khi một magnet nằm dưới thị trường, đó là một mức support — nghĩa là một vùng nơi bulls sẽ khởi tạo positions và bears sẽ chốt profit trên shorts của họ. Khi một magnet nằm trên thị trường, đó là một mức resistance — nghĩa là một vùng nơi bulls sẽ chốt profit trên longs của họ và bears sẽ khởi tạo shorts. Support và resistance là những magnets hút thị trường về phía chúng. Khi bạn nhận ra có một magnet không quá xa so với giá hiện tại, chỉ trade theo hướng của magnet đó cho đến sau khi thị trường chạm tới nó. Lúc ấy, bạn phải quyết định xem thị trường trông như sẽ reverse, đi ngang, hay bỏ qua magnet và tiếp tục trending. Magnets cho bạn biết đích đến có khả năng xảy ra, chứ không cho biết đường đi, và dọc đường có thể có những pullbacks lớn. Ngoài ra, thị trường có thể nằm trong một trading range suốt hàng chục bars, nhưng vẫn trong tầm có thể chạm tới một magnet. Dù bạn nên nhận thức về magnet đó, vẫn có thể có những trades đáng tin cậy theo cả hai hướng trong lúc thị trường quyết định liệu nó sẽ test magnet và sẽ đến đó bằng cách nào.

Traders liên tục nhìn vào support và resistance. Thị trường có inertia và một xu hướng mạnh tiếp tục những gì nó đang làm. Khi đang trending, hầu hết nỗ lực reverse trend sẽ thất bại. Ví dụ, nếu thị trường đang trending xuống, hầu hết các mức support sẽ thất bại trong việc giữ hoặc reverse thị trường. Tuy nhiên, mọi bull reversals đều xảy ra tại các mức support (và mọi bear reversals đều xảy ra tại các mức resistance), nên nếu thị trường bắt đầu reverse lên, potential reward thường lớn gấp nhiều lần so với risk. Dù probability of success thường chỉ khoảng 40 phần trăm, trader’s equation vẫn dương và vì vậy reversal trade vẫn có cơ sở về mặt toán học. Inertia cũng nghĩa là khi thị trường đang trong một trading range, hầu hết nỗ lực break out sẽ thất bại, và thị trường sẽ liên tục reverse lên từ support tạo bởi đáy của range, rồi reverse xuống từ resistance ở đỉnh. Dù hầu hết nỗ lực reverse một trend sẽ thất bại, mọi trend reversals và mọi pullbacks đều bắt đầu tại các mức support và resistance, nên biết chúng nằm ở đâu có thể giúp traders chốt profit và entry các reversal trades tại những vị trí tối ưu.

Phần lớn hoạt động trading trên Emini do computers thực hiện, và các algorithms của chúng dựa trên logic và numbers. Khi chúng mua một thị trường đang rơi hoặc bán một cú rally, chúng làm vậy vì đã tính ra rằng mức giá cụ thể ấy là một vị trí hợp lý để đặt trades. Nếu đủ nhiều algorithms dùng các mức giá tương tự, thị trường có thể reverse, ít nhất trong một hoặc hai bars, và thường đủ để có một trade có profit. Dù một số algorithms dùng những numbers không trực tiếp dựa trên Emini price chart (ví dụ, chúng có thể dùng dữ liệu từ options markets hoặc các related markets khác), trừ khi nhiều programs đưa ra những numbers tương tự, khó có đủ lực để đổi hướng thị trường. Khi thị trường reverse, nó luôn làm vậy tại các mức support và resistance; với thực hành, một individual trader thường có thể nhận ra chúng. Vì một số trong những reversals ấy dẫn tới trades có profit, và vì những mức này là những vùng hợp lý để chốt profit, việc biết các possible turning points nằm ở đâu là hữu ích.

Một trong những lý do quan trọng để tìm magnets là chúng là những vùng hợp lý để chốt partial hoặc full profits. Bạn nên luôn nhanh hơn trong việc chốt profit trên một trade so với việc tìm một entry theo hướng ngược lại. Nghĩa là bạn cần một setup mạnh hơn để khởi tạo một trade theo hướng ngược lại so với mức cần thiết chỉ để chốt profit. Nếu cú move hướng tới magnet yếu và nếu nó đi ngược hướng của một larger trend, bạn cũng có thể tìm cách khởi tạo một trade theo hướng ngược lại, kỳ vọng một reversal. Thị trường thường sẽ overshoot magnet, ít nhất một chút, và nếu cú move hướng tới magnet không phải là một strong trend, thị trường thường sẽ reverse, ít nhất trong một hoặc hai bars. Nếu trend resumes và đi xa hơn nữa qua magnet rồi reverse lần thứ hai, đây thường là một setup đáng tin cậy cho một trade theo hướng ngược lại, đặc biệt nếu có một strong reversal bar.

Bất kỳ loại price action đáng kể nào cũng có thể tạo thành support hoặc resistance, và những ví dụ phổ biến gồm:

  • Trend lines.
  • Trend channel lines.
  • Bất kỳ loại moving average nào trên bất kỳ time frame nào.
  • Measured move targets.
  • Prior swing highs hoặc lows.
  • Bull entry bar lows và bear entry bar highs.
  • Bull signal bar highs và bear signal bar lows.
  • High, low, open, và close của hôm qua.
  • High, low, open, hoặc close của bất kỳ bar nào, đặc biệt nếu bar đó là một large trend bar.
  • Daily pivots.
  • Fibonacci retracement levels và projections.
  • Bất kỳ loại band nào.

Support và resistance là những thuật ngữ do traders tạo ra để mô tả bất kỳ mức giá nào có đủ mathematical edge để một trader đặt một trade có profit. Những thuật ngữ này được traders tạo ra để giúp họ nhận diện trades. High của mọi bar trên mọi time frame đều nằm tại một mức resistance nào đó, low của mọi bar đều nằm tại support, và close nằm đúng chỗ nó nằm chứ không cao hơn hay thấp hơn một tick vì computers đặt nó ở đó có lý do. Support và resistance có thể không rõ ràng, nhưng vì computers kiểm soát mọi thứ và chúng dùng logic, mọi thứ đều phải có nghĩa, dù thường khó hiểu. Mọi mức giá trên chart đều có một mathematical edge nào đó, nhưng các edges thường quá nhỏ để trade được trừ khi bằng các high-frequency trading (HFT) programs, nhiều trong số đó được thiết kế để scalp vì một penny of profit. Theo định nghĩa, một mức giá chỉ là support hoặc resistance nếu nó có một directional probability imbalance. Ví dụ, nếu thị trường rơi xuống một mức support, traders tin rằng có khoảng 60 phần trăm chance trở lên sẽ có ít nhất một cú bounce đủ lớn cho một scalp — vốn là minimal trade của mọi trader. Nếu chance chỉ 52 hoặc 53 phần trăm, traders nhiều khả năng sẽ không coi đó đủ cao để dùng thuật ngữ ấy và thay vào đó chỉ xem mức giá là không đáng chú ý. Nếu thị trường đang ở giữa một trading range, low của prior bar luôn ít nhất là một vùng support tối thiểu theo nghĩa chung của từ này, nhưng điều đó không nghĩa là cú bounce kỳ vọng đủ lớn để đặt một trade có profit. Nếu cú bounce kỳ vọng chỉ vài ticks, thì từ góc nhìn của trader đó không phải là support. Nếu bar hiện tại vẫn đang hình thành và đang ở low của nó và cao hơn low của prior bar một tick, có thể có 53 phần trăm chance thị trường bounce hai ticks trước khi rơi hai ticks. Tuy nhiên, đó là một edge quá nhỏ và một chuyển động giá quá nhỏ để traders đặt một trade (dù một high-frequency program có thể làm trade ấy), và vì vậy traders sẽ không gọi đó là support. Điều ngược lại đúng với resistance.

Support và resistance tồn tại vì thị trường có memory. Một khi thị trường quay lại một mức giá trước đó, nó sẽ có xu hướng làm cùng điều nó đã làm lần trước khi ở đó. Ví dụ, nếu thị trường rơi xuyên qua đáy của một trading range rồi rally trở lại đáy của range, nó thường sẽ sell off lại vì đó chính là điều nó đã làm khi lần cuối ở mức giá ấy. Những traders đã không exit longs của họ và đã ride xuyên qua bear leg sẽ sốt sắng có cơ hội thứ hai để exit với một khoản loss nhỏ hơn, và họ sẽ hold cho đến khi thị trường rally trở lại và test breakout. Tại điểm ấy, họ sẽ sell out khỏi longs của họ và điều này sẽ tạo ra selling pressure. Ngoài ra, những shorts đã chốt profit ở đáy của cú sell-off sẽ sốt sắng short lại trên cú rally. Selling kết hợp từ phía bears và từ phía bulls đang liquidate sẽ tạo ra resistance đối với một cú rally tiếp tục và thường đẩy thị trường trở xuống.

Khi thị trường rơi trở lại một mức giá và chạm nó nhiều lần rồi bounce mỗi lần, nó đang tìm thấy support tại mức giá ấy. Nếu thị trường rally tới một mức giá và liên tục rơi trở lại, vùng ấy là resistance. Bất kỳ vùng support hoặc resistance nào cũng hoạt động như một magnet, hút thị trường về mức giá đó. Khi thị trường tiến gần, nó bước vào magnetic field, và càng gần thì lực hút từ magnet càng mạnh. Điều này làm tăng odds rằng thị trường sẽ chạm mức giá ấy. Lực hút mạnh hơn ấy một phần được tạo ra bởi vacuum effect. Ví dụ, nếu thị trường đang có một bear rally hướng tới một bear trend line nhưng chưa chạm tới, sellers thường sẽ đứng sang một bên và chờ cú test. Nếu họ tin thị trường sẽ chạm đường ấy, không có lý gì để họ sell ngay dưới đường ấy khi họ sớm có thể sell cao hơn. Sự vắng mặt của selling tạo ra một buy imbalance và vì vậy một vacuum effect nhanh chóng hút thị trường lên. Kết quả thường là một bull trend bar. Sau đó, bull scalpers sell out khỏi longs của họ để lấy profit và bears sell để khởi tạo shorts mới. Vì không có một clear bull reversal ở đáy, hầu hết bulls đã mua để scalp, chỉ kỳ vọng một pullback rồi resumption của bear trend.

Một khi thị trường tới target, traders nghĩ rằng lúc này thị trường nhiều khả năng sẽ đi xuống đủ xa để đặt một trade có profit, và họ xuất hiện như từ hư không rồi short aggressive và không ngừng nghỉ, đẩy thị trường xuống. Những weak bulls đã mua ở đỉnh của strong bull trend bar ấy bị choáng vì không có follow-through, nhưng họ đã hiểu sai ý nghĩa của bull trend bar. Họ nghĩ rằng traders đột nhiên tin thị trường sẽ break lên trên trend line và một bull leg sẽ bắt đầu. Họ không nhận ra vacuum effect và không nghĩ rằng bears chỉ đang chờ thị trường cao hơn một chút. Strong bull trend bar xuất hiện vì bears tạm thời đứng sang một bên chứ không phải vì bears đang mua lại shorts của họ. Những bulls cứ tiếp tục mua cần tìm bears để đứng phía đối diện của trades của họ và họ chỉ tìm được chúng ở mức cao hơn, nơi bears nghĩ thị trường sẽ bắt đầu reverse. Thị trường sẽ tiếp tục đi xuống tới một vùng trung lập và thường vượt xa hơn tới điểm nơi bulls lúc này có một mathematical edge. Đó là vì thị trường không bao giờ biết rằng nó đã đi đủ xa cho đến khi nó đi quá xa. Sau đó nó trade lên xuống trên vùng trung lập ấy, và vùng ấy ngày càng thắt chặt hơn khi bulls và bears định nghĩa nó tốt hơn. Tại một điểm nào đó, cả hai phía đều nhận ra rằng value là sai và thị trường rồi break out lại và bắt đầu một cuộc tìm kiếm value mới.

Mọi countertrend spike nên được coi như một vacuum effect pullback. Ví dụ, nếu có một sharp bear spike trên 5 minute chart rồi thị trường đột nhiên reverse thành một bull leg, đã có một vùng support ở đáy, dù bạn có thấy trước hay không. Bulls đã đứng sang một bên cho đến khi thị trường đạt tới một mức nơi họ tin rằng value là đáng kể, và cơ hội mua ở mức giá tuyệt vời này sẽ ngắn ngủi. Họ bước vào và mua aggressive. Những smart bears nhận thức được magnet ấy, và dùng nó như một cơ hội để chốt profit trên shorts của họ. Kết quả là một market bottom trên 5 minute chart. Đáy ấy, giống như mọi bottoms, xảy ra tại một mức higher time frame support nào đó, như một bull trend line, một moving average, hoặc một bear trend channel line ở đáy của một large bull flag. Điều quan trọng cần nhớ là nếu 5 minute reversal mạnh, bạn sẽ mua dựa trên reversal ấy, bất kể bạn có thấy support trên daily hoặc 60 minute chart hay không. Ngoài ra, bạn sẽ không mua tại đáy ấy, ngay cả nếu bạn thấy higher time frame support, trừ khi có bằng chứng trên 5 minute chart rằng nó đang hình thành một bottom. Nghĩa là bạn không cần nhìn nhiều charts khác nhau để tìm mức support ấy, vì reversal trên 5 minute chart đã cho bạn biết nó đang ở đó. Nếu bạn có thể theo dõi nhiều time frames, bạn sẽ thấy các mức support và resistance trước khi thị trường chạm tới chúng, và điều này có thể cảnh báo bạn tìm một setup trên 5 minute chart khi thị trường tới magnet. Tuy nhiên, nếu bạn đơn giản theo dõi 5 minute chart cẩn thận, nó sẽ cho bạn biết tất cả những gì bạn cần biết.

Nhìn chung, nếu thị trường test một vùng support bốn hoặc năm lần, khả năng break xuyên qua support ấy tăng lên và, tại một điểm nào đó, breakout trở nên nhiều khả năng xảy ra hơn là không. Nếu những buyers đã nâng thị trường tại mức này thất bại lặp lại trong việc làm vậy lần nữa, họ sẽ bỏ cuộc tại một điểm nào đó và bị sellers át. Ví dụ, nếu thị trường đang nghỉ trên một flat moving average, traders sẽ mua mọi lần chạm của moving average, kỳ vọng một cú rally. Nếu thay vào đó thị trường tiếp tục đi ngang và họ thậm chí không có đủ một cú rally để cho phép một profitable scalp, tại một điểm nào đó họ sẽ sell longs của họ, từ đó tạo ra selling pressure. Họ cũng sẽ ngừng mua các lần chạm của moving average. Sự vắng mặt của buying này sẽ tăng probability rằng thị trường sẽ rơi xuyên qua moving average. Bulls đã quyết định rằng moving average chưa phải là một mức chiết khấu đủ lớn để họ mua aggressive, và họ sẽ chỉ làm vậy khi có một mức chiết khấu sâu hơn nữa. Nếu nó không tìm thấy những buyers ấy trong vòng 10 đến 20 bars sau khi rơi dưới moving average, thị trường thường sẽ hoặc trend xuống hoặc tiếp tục trong một trading range, nhưng lúc này nằm dưới moving average. Traders sẽ bắt đầu short các cú rallies lên tới moving average, điều này sẽ tăng khả năng rằng thị trường sẽ bắt đầu hình thành lower highs và rằng moving average sẽ bắt đầu trend xuống. Một khi thị trường rơi xuyên qua support, nó thường trở thành resistance; và một khi thị trường break lên trên resistance, nó thường trở thành support.

Điều này cũng có thể xảy ra với một trend line hoặc một trend channel line. Ví dụ, nếu một bull market pull back tới một trend line bốn lần trở lên và nó không rally xa trên trend line, tại một điểm nào đó bulls sẽ ngừng mua các tests của trend line và họ sẽ bắt đầu sell longs của họ, tạo ra selling pressure. Điều này được cộng thêm vào selling của bears, và vì bulls đã ngừng mua, thị trường sẽ rơi xuyên qua trend line. Đôi khi, tuy nhiên, thị trường thay vào đó sẽ đột nhiên accelerate lên phía trên và bears sẽ ngừng short mọi small bounce và thay vào đó sẽ mua lại shorts của họ, đẩy thị trường cao hơn.

Institutional trading được thực hiện bởi discretionary traders và computers, và computer program trading đã trở nên ngày càng quan trọng. Institutions dựa trading của họ trên fundamental hoặc technical information, hoặc sự kết hợp của cả hai, và cả hai loại trading đều được thực hiện bởi traders và bởi computers. Nhìn chung, hầu hết discretionary traders dựa quyết định của họ chủ yếu trên fundamental information, và hầu hết computer trades dựa trên technical data. Vì phần lớn volume hiện nay được trade bởi HFT firms, và hầu hết trades dựa trên price action và các technical data khác, hầu hết program trading là technically based. Cuối thế kỷ hai mươi, một single institution chạy một large program có thể đẩy thị trường, và program ấy sẽ tạo ra một micro channel, vốn traders nhìn như một dấu hiệu rằng một program đang chạy. Hiện nay, hầu hết các ngày có khoảng một tá micro channels trên Emini, và nhiều cái có hơn 100,000 contracts được trade. Với Emini hiện quanh 1200, điều đó tương ứng với $6 billion, và lớn hơn những gì một single institution sẽ trade cho một single small trade. Nghĩa là một single institution không thể đẩy thị trường rất xa hoặc rất lâu, và rằng mọi chuyển động trên chart đều do nhiều institutions trading cùng hướng cùng lúc tạo ra. Ngoài ra, HFT computers phân tích mọi tick và liên tục đặt trades suốt cả ngày. Khi chúng phát hiện một program, nhiều cái sẽ scalp theo hướng của program, và chúng thường sẽ chiếm phần lớn volume trong lúc micro channel (program) đang tiến triển.

Những institutions đang trading chủ yếu dựa trên technical information không thể đẩy thị trường theo một hướng mãi mãi vì tại một điểm nào đó thị trường sẽ trông như đang offer value đối với những institutions trading dựa trên fundamentals. Nếu technical institutions đẩy giá lên quá cao, fundamental institutions và các technical institutions khác sẽ nhìn thị trường như đang ở một mức giá tuyệt vời để sell out khỏi longs và để khởi tạo shorts, và chúng sẽ át bullish technical trading và đẩy thị trường xuống. Khi technical trading tạo ra một bear trend, thị trường tại một điểm nào đó sẽ rõ ràng là rẻ trong mắt fundamental và các technical institutions khác. Buyers sẽ bước vào và át những technical institutions chịu trách nhiệm cho cú selloff và reverse thị trường lên.

Trend reversals trên mọi time frames luôn xảy ra tại các mức support và resistance, vì technical traders và programs tìm chúng như những vùng nơi chúng nên ngừng press bets của mình và bắt đầu chốt profit, và nhiều cái cũng sẽ bắt đầu trade theo hướng ngược lại. Vì tất cả đều dựa trên mathematics, computer algorithms — vốn tạo ra 70 phần trăm toàn bộ trading volume và 80 phần trăm institutional volume — biết chúng nằm ở đâu. Ngoài ra, institutional fundamental traders cũng chú ý tới những technical factors rõ ràng. Họ nhìn major support và resistance trên chart như những vùng value và sẽ entry trades theo hướng ngược lại khi thị trường tới đó. Những programs trade dựa trên value thường sẽ tìm thấy value quanh cùng những vùng ấy, vì gần như luôn có significant value theo bất kỳ thước đo nào quanh major support và resistance. Hầu hết programs đưa ra quyết định dựa trên price, và không có bí mật. Khi có một mức giá quan trọng, tất cả đều thấy nó, bất kể chúng dùng logic nào. Fundamental traders (người và machines) chờ value và cam kết mạnh khi chúng phát hiện ra nó. Chúng muốn mua khi nghĩ thị trường đang rẻ và bán khi tin nó đang đắt. Ví dụ, nếu thị trường đang rơi, nhưng đang tiến tới một mức giá nơi institutions cảm thấy nó đang trở nên rẻ, chúng sẽ xuất hiện như từ hư không và mua aggressive. Điều này được thấy rõ nhất và thường xuyên nhất trong opening reversals (reversals có thể lên hoặc xuống và được thảo luận trong phần trading the open ở book 3). Bears sẽ mua lại shorts của họ để chốt profit và bulls sẽ mua để thiết lập longs mới. Không ai giỏi biết khi nào thị trường đã đi đủ xa, nhưng hầu hết experienced traders và programs thường khá tự tin vào khả năng biết khi nào nó đã đi quá xa.

Vì institutions đang chờ mua cho đến khi thị trường trở nên clearly oversold, có sự vắng mặt của buyers trong vùng trên một possible bottom, và thị trường có thể accelerate xuống tới vùng nơi chúng tự tin rằng nó đang rẻ. Một số institutions dựa vào programs để quyết định khi nào mua và một số khác là discretionary. Một khi đủ nhiều trong số chúng mua, thị trường thường sẽ quay lên ít nhất một vài legs và khoảng 10 bars trở lên trên bất kỳ time frame chart nào nơi điều này đang xảy ra. Trong lúc nó đang rơi, institutions tiếp tục short suốt đường xuống cho đến khi chúng xác định rằng nó đã đạt tới một likely target và khó có khả năng rơi xa hơn nữa, lúc ấy chúng chốt profit. Thị trường càng oversold, phần volume càng dựa nhiều hơn vào technicals, vì fundamental traders và programs sẽ không tiếp tục short khi chúng nghĩ thị trường đang rẻ và sớm nên được mua. Sự vắng mặt tương đối của buyers khi thị trường tiến gần một major support level thường dẫn tới sự accelerate của selling lao vào support, thường tạo ra một sell vacuum hút thị trường xuống dưới support trong một climactic selloff, lúc ấy thị trường reverse lên mạnh. Hầu hết các mức support sẽ không dừng một bear trend (và hầu hết các mức resistance sẽ không dừng một bull trend), nhưng khi thị trường cuối cùng reverse lên, nó sẽ nằm tại một major support level rõ ràng, như một long term trend line. Đáy của cú selloff và cú reverse lên thường diễn ra trên very heavy volume. Trong lúc thị trường đang rơi, nó có nhiều cú rallies lên tới các mức resistance và các cú selloffs xuống tới các mức support dọc đường, và mỗi reversal diễn ra khi đủ nhiều institutions xác định rằng nó đã đi quá xa và đang offer value cho một trade theo hướng ngược lại. Khi đủ nhiều institutions hành động quanh cùng một mức, một major reversal diễn ra.

Có những cách fundamental và technical để xác định support (và resistance). Ví dụ, nó có thể được ước lượng bằng các phép tính, như S&P 500 price earnings multiple về mặt lý thuyết nên là bao nhiêu, nhưng những phép tính ấy không bao giờ đủ chính xác để đủ nhiều institutions đồng ý. Tuy nhiên, các vùng support và resistance truyền thống dễ thấy hơn và vì vậy nhiều khả năng được nhiều institutions chú ý hơn, và chúng định nghĩa rõ ràng hơn nơi thị trường nên reverse. Trong các crashes của cả 1987 và 2008–2009, thị trường sụp xuống hơi dưới monthly trend line rồi reverse lên, tạo ra một major bottom. Thị trường sẽ tiếp tục lên, với nhiều tests xuống, cho đến khi nó đã đi quá xa, vốn luôn nằm tại một significant resistance level. Chỉ khi ấy institutions mới có thể tự tin rằng có clear value trong việc selling out khỏi longs và selling vào shorts. Quá trình rồi reverse xuống.

Fundamentals (value trong việc buying hoặc selling) quyết định overall direction, nhưng technicals quyết định các actual turning points. Thị trường luôn đang probe để tìm value, vốn là một excess, và luôn nằm tại các mức support và resistance. Reports và news items tại bất kỳ thời điểm nào cũng có thể thay đổi fundamentals (perception of value) đủ để khiến thị trường trend lên hoặc xuống trong vài phút đến vài ngày. Major reversals kéo dài hàng tháng dựa trên fundamentals và bắt đầu cũng như kết thúc tại các mức support và resistance. Điều này đúng với mọi market và mọi time frame.

Điều quan trọng cần nhận ra là news sẽ báo cáo fundamentals vẫn còn bullish sau khi thị trường đã bắt đầu quay xuống từ một major top, và vẫn còn bearish sau khi nó đã quay lên từ một major bottom. Chỉ vì news vẫn nhìn thị trường như bullish hoặc bearish không nghĩa là institutions cũng vậy. Trade the charts chứ không trade the news. Price is truth và thị trường luôn dẫn trước news. Trên thực tế, news luôn bullish nhất tại market tops và bearish nhất tại market bottoms. Các reporters bị cuốn vào euphoria hoặc despair và tìm những pundits sẽ giải thích vì sao trend mạnh đến vậy và sẽ tiếp tục lâu hơn nữa. Họ sẽ bỏ qua những smartest traders, và có lẽ thậm chí không biết họ là ai. Những traders ấy quan tâm đến việc kiếm tiền, không phải news, và sẽ không tìm kiếm reporters. Khi một reporter đi taxi đến chỗ làm và tài xế bảo anh ta vừa bán hết stocks và thế chấp nhà để mua gold, reporter hưng phấn và không thể chờ để tìm một bullish pundit lên sóng xác nhận insight sâu sắc của reporter về gold bull market. “Chỉ nghĩ thôi, thị trường mạnh đến mức ngay cả tài xế taxi của tôi cũng đang mua gold! Mọi người vì vậy sẽ bán hết các assets khác và mua thêm, và thị trường sẽ phải lao cao hơn suốt nhiều tháng nữa!” Với tôi, khi ngay cả những weakest traders cuối cùng cũng bước vào thị trường, không còn ai nữa để mua. Thị trường cần một greater fool sẵn sàng mua cao hơn để bạn có thể sell out với một profit. Khi không còn ai, thị trường chỉ có thể đi theo một hướng, và đó là hướng ngược lại với những gì news đang bảo bạn. Khó mà kháng cự được cuộc diễu hành bất tận của những persuasive professorial pundits trên truyền hình đang đưa ra các luận điểm uyên bác về việc gold không thể đi xuống và trên thực tế sẽ nhân đôi lần nữa trong năm tới. Tuy nhiên, bạn phải nhận ra rằng họ ở đó vì sự tự đề cao bản thân và vì entertainment. Network cần entertainment để thu hút viewers và advertising dollars. Nếu bạn muốn biết institutions thực sự đang làm gì, hãy nhìn vào charts. Institutions quá lớn để ẩn mình và nếu bạn hiểu cách đọc charts, bạn sẽ thấy chúng đang làm gì và thị trường đang hướng đi đâu, và điều đó thường không liên quan tới bất cứ thứ gì bạn thấy trên truyền hình.

Hầu hết major tops không đến từ climaxes tạo bởi huge bars và volume, vốn phổ biến hơn tại major bottoms. Thường hơn, một top đến từ một trading range, như một double top hoặc một head and shoulders top, theo sau bởi một breakout dưới dạng một bear spike. Tuy nhiên, tops có thể là climactic, và bottoms có thể là trading ranges.

Các chapters về trading ranges (phía sau) và channels (trong book 1) mô tả cách dùng support và resistance để đặt trades. Ví dụ, traders sẽ mua gần đáy của một channel hoặc một loại trading range khác và short gần đỉnh, rồi chốt profit và reverse trên cú test của phía kia của channel hoặc trading range.

Trong một strong trend, thị trường mở rộng vượt qua hầu hết magnets. Ví dụ, trong một bull trend, beginning traders sẽ phát hiện rằng cú rally tiếp tục lên xa vượt mọi measured move target và trend channel line mà họ vẽ. Những beginners ấy sẽ nhầm lẫn short tại mọi mức resistance họ nhận thức được, thấy losses của họ tăng suốt cả ngày. Họ sai lầm cứ tiếp tục short các tops trông tuyệt nhưng thực ra xấu, và từ chối mua các pullbacks trông xấu nhưng thực ra tuyệt. Tuy nhiên, một khi cuối cùng có một pullback hoặc một reversal, nó sẽ luôn xảy ra tại một mức resistance. Ngay cả trong strong trends, measured move targets thường hoạt động chính xác tới từng tick. Rõ ràng, điều này một phần vì computers có thể tính chúng chính xác. Computers kiểm soát thị trường và profit taking của chúng phải nằm tại một mức được tính toán nào đó, vốn luôn nằm tại một magnet nào đó. Ngoài ra, nếu một trade ở mức tối thiểu là “good”, nghĩa là strategy có profit, reward phải ít nhất bằng risk để tạo ra một positive trader’s equation. Điều này thường dẫn tới một phần profit taking một khi reward đạt tới kích thước của risk, vì đây là mức tối thiểu mà thị trường phải đạt tới để làm strategy có profit. Minor swings thường kết thúc chính xác tại measured move projections, và nhiều strong trends kết thúc đúng tại, hoặc trong vòng một tick của, một significant measured move target, khi price bị hút tới magnet.

Figure PII.1 — Dow Jones Industrial Average Monthly Chart

Monthly chart của Dow Jones Industrial Average (Figure PII.1) cho thấy vài loại support và resistance (tất cả đều là magnets).

Trend lines và trend channel lines là những vùng support và resistance quan trọng. Đáy bar 18 của cú crash 2009 reverse lên từ dưới một monthly trend line được vẽ từ đáy crash 1987 tới cú pullback tháng October 1990. Nó cũng nằm tại trend channel line tạo bởi bars 8 và 12 (tạo thành một dueling lines pattern, được thảo luận trong một section sau). Mọi major reversals lên từ bear markets đều xảy ra tại support và mọi tops đều xảy ra tại resistance, nhưng hầu hết support và resistance không dừng trends. Tuy nhiên, nếu có một strong reversal pattern và nó hình thành tại một mức support hoặc resistance, institutions sẽ chốt profit và nhiều cái thậm chí sẽ entry theo hướng kia. Market bottoms thường đến từ sell climaxes hơn, như các crashes của 1987 và 2009. Market tops thường đến từ trading ranges hơn, như quanh bars 9 và 15.

High của bar 15 gần với một measured move lên dựa trên chiều cao của bull spike từ bar 12 tới bar 13.

Moving average liên tục hoạt động như support, như tại bars 3, 4, 6, 8, 14, và 20, và resistance, như tại bars 11 và 17.

Trading ranges hoạt động như support và resistance. Breakout xuống dưới trading range của bar 9 là resistance đối với cú rally tới bar 11, và trading range của bar 15 là resistance đối với cú rally tới bar 17. Một khi thị trường rally lên tới bar 15, bar 16 tìm thấy support tại đỉnh của trading range của bar 9.

Swing highs và lows hoạt động như support và resistance. Bar 12 tìm thấy support tại low của bar 8 và hình thành một double bottom. Bar 13 hình thành một double top với bar 11, nhưng thị trường đi ngang và sớm break lên trên resistance ấy.

Figure PII.2 — Support Can Become Resistance, and Resistance Can Become Support

Support trở thành resistance và resistance trở thành support trên 5 minute Emini chart được thể hiện trong Figure PII.2. Điều này đúng với cả moving average lẫn trend lines.

Bars 1, 2, 5, 6, 17, 18, 19, và 20 tìm thấy sellers trên các cú rallies tới moving average, và bars 7, 8, 13, 15, và 16 tìm thấy buyers trên các minor pullbacks tới moving average.

Bars 12, 13, 15, và 16 là các tests lặp lại của moving average, và buyers không được thưởng và sớm ngừng mua các pullbacks. Thị trường rồi rơi dưới moving average và bears bắt đầu short các small rallies lên tới moving average, tạo ra một chuỗi lower highs và lows.

Bull trend line là một best fit line được vẽ với mục tiêu có càng nhiều bars càng tốt test nó. Buyers rõ ràng đang mua trong vùng của trend line, và nó được test hơn một tá lần mà không có một sharp rally rời khỏi trend line. Sự thiếu acceleration này khiến bulls ngày càng thận trọng theo thời gian, và cuối cùng họ trở nên không sẵn sàng mua trong vùng của trend line. Một khi thị trường rơi dưới trend line, bulls trở nên còn do dự hơn nữa trong việc mua, và bắt đầu sell out khỏi longs của họ, còn bears trở nên aggressive hơn. Lower highs và lows hình thành và traders bắt đầu vẽ bear trend lines nơi họ short các cú rallies.

Nhân tiện, bất kỳ upward-sloping channel nào cũng nên được nghĩ như một bear flag, ngay cả nếu nó là một phần của một bull market, vì cuối cùng sẽ có một break xuống dưới trend line và thị trường sẽ hành xử như thể channel ấy là một bear flag cho mục đích trading. Cũng vậy, bất kỳ downward-sloping channel nào cũng nên được nghĩ như một bull flag và eventual breakout của nó nên được trade như thể một bull leg đang diễn ra.

Chapter 7 — Measured Moves Based on the Size of the First Leg (the Spike)

Một measured move là một swing có kích thước bằng một prior swing theo cùng hướng. Bạn ước lượng thị trường sẽ đi bao xa trong lần attempt thứ hai dựa trên nó đã đi bao xa trong lần đầu. Tại sao measured moves lại hoạt động? Nếu bạn đang tìm một measured move, thì bạn tin rằng bạn biết hướng always-in, nghĩa là bạn có lẽ chắc chắn ít nhất 60 phần trăm rằng cú move sẽ xảy ra. Measured move thường dựa trên chiều cao của một spike hoặc trading range, và initial protective stop thường nằm ngoài điểm bắt đầu của first move. Ví dụ, nếu có một strong buy spike, thì initial protective stop nằm thấp hơn low của spike một tick. Nếu spike khổng lồ, traders hiếm khi risk nhiều đến vậy, và thường vẫn có một trade có profit, nhưng theoretical stop vẫn nằm dưới spike. Ngoài ra, probability thường hơn 60 phần trăm. Nếu spike cao khoảng bốn points, thì risk khoảng bốn points. Vì bạn tin rằng measured move sẽ xảy ra và rằng strategy mua ở đỉnh của spike là vững, thì bạn đang risk bốn points trên một cược 60 phần trăm. Mathematics quy định rằng niềm tin của bạn (rằng strategy sẽ có profit khi probability là 60 phần trăm) chỉ đúng nếu reward ít nhất bằng risk. Điều này được thảo luận trong Chapter 25 về mathematics of trading. Nghĩa là để strategy hoạt động, bạn cần có 60 phần trăm chance kiếm được ít nhất bốn points, vốn là measured move target. Nói cách khác, cách duy nhất để strategy hoạt động là nếu measured move target bị hit khoảng 60 phần trăm thời gian. Vì trading một trend là dạng trading đáng tin cậy nhất, nếu có những strategies nào hoạt động, thì đây phải là một trong số đó. Đây có phải là lý do measured moves hoạt động không? Không ai biết chắc, nhưng đó là một lời giải thích hợp lý, và là lời giải thích tốt nhất mà tôi từng tưởng tượng ra.

Hầu hết measured moves dựa hoặc trên spikes hoặc trên trading ranges. Khi một cái dựa trên một spike, nó thường dẫn tới một trading range; và khi nó dựa trên một trading range, nó thường dẫn tới một spike. Ví dụ, nếu có một double top, vốn là một loại trading range, traders thường sẽ chốt partial profits một khi breakout lên hoặc xuống đạt tới một measured move. Traders tìm một breakout, vốn là một spike, và họ thường kỳ vọng một phần profit taking một khi spike đã đạt tới vùng measured move. Nếu breakout diễn ra với một strong spike và không có significant pause tại measured move target, bản thân spike thường dẫn tới một measured move dựa trên chiều cao của spike. Một khi thị trường tới đó, traders thường sẽ bắt đầu chốt profit và kết quả thường sẽ là một trading range.

Một khi có một pullback từ một strong move, thường sẽ có một second leg theo cùng hướng, và nó thường có kích thước xấp xỉ bằng first leg. Khái niệm này là cơ sở cho vài techniques đáng tin cậy để chiếu một possible target cho điểm kết thúc của second leg ấy. Vùng measured move ấy là một nơi hợp lý để chốt profit trên trend position của bạn, rồi bạn có thể chờ một pullback khác để reestablish position của bạn. Nếu có một strong reversal setup, bạn cũng có thể cân nhắc một countertrend trade.

Khi thị trường tạo một sharp move rồi có một pullback, nó nhiều khả năng sẽ có một second leg và second leg thường có kích thước xấp xỉ bằng first. Đây là một cú move leg 1 = leg 2, nhưng nó cũng được gọi là một ABC move hoặc một AB = CD. Terminology theo alphabet này gây nhầm lẫn, và đơn giản hơn nếu chỉ gọi hai cú moves là leg 1 và leg 2, còn pullback sau leg 1 đơn giản là pullback. Sự nhầm lẫn với alphabetical labeling là ở chỗ trong pattern AB = CD, các điểm B, C, và D tương ứng với A, B, và C của ABC move. Leg B của một ABC là pullback và nó tạo ra một thick area trên một Market Profile (đồ thị của CME Group về thông tin price và time). Midpoint của bất kỳ thick area nào thường dẫn tới một measured move, và ở đây target giống với target dựa trên AB = CD. Ví dụ, với AB = CD trong một bull trend, nếu bạn bắt đầu tại điểm A và cộng chiều dài của leg AB (là B − A), rồi cộng điều đó vào C, bạn được C + (B − A). Với thick area, bạn bắt đầu tại A rồi cộng chiều dài của leg AB (là B − A), rồi đi trở xuống một nửa của thick area (vậy trừ đi nửa của leg BC), rồi cộng chiều cao của B trừ đi một nửa của BC thick area để có measured move lên từ giữa của BC thick area. Cả hai phương trình đều bằng C + (B − A) và vì vậy cho cùng một measured move projection. Điều này quá phức tạp, và nó có tầm quan trọng nhỏ vì bạn không nên fade cú move bằng một limit order chỉ dựa trên Fibonacci extensions hoặc measured moves hoặc bất kỳ magnet nào khác. Chúng chỉ cung cấp một hướng dẫn để giữ bạn trading theo trend cho đến khi chúng được tiến gần, và tại điểm ấy bạn có thể cân nhắc cả các countertrend setups.

Ngoài các clear pullback entries thiết lập measured moves, đôi khi có một tình huống tinh tế hơn nhưng cũng hợp lệ tương đương. Khi một market có một strong trend move rồi một pullback leg khá mạnh, rồi một trading range, traders có thể dùng approximate middle của range để chiếu nơi second leg của pullback có thể đạt tới. Khi trading range đang hình thành, hãy tiếp tục điều chỉnh đường đến nơi bạn ước lượng midpoint nằm, và đó thường sẽ quanh midpoint của pullback một khi cú move cuối cùng hoàn thành second leg của nó. Điều này chỉ phục vụ như một hướng dẫn về nơi bạn nên kỳ vọng two-legged pullback kết thúc và để thị trường thiết lập một trade cho resumption của trend. Bạn cũng có thể đơn giản dùng một phép đo leg 1 = leg 2. Ví dụ, trong một two-legged bull flag, lấy chiều dài của first leg xuống và trừ chiều cao ấy khỏi đỉnh của pullback để tìm một vị trí hợp lý nơi second leg xuống của pullback có thể kết thúc.

Có một biến thể của điều này trong các spike and channel trends nơi chiều cao của channel thường khoảng bằng chiều cao của spike. Điều này đặc biệt đúng khi spike mạnh, như một cái có các trend bars đặc biệt lớn hoặc vài strong trend bars với ít overlap và small tails. Khi có một strong spike, thị trường thường tạo một measured move theo một trong hai hướng, nhưng thường theo hướng with-trend dựa trên một sự kết hợp nào đó của open, close, high, hoặc low của first và last bars của spike. Ví dụ, nếu có một huge bull spike, lấy số points từ open của first bar của spike tới close của final bar của spike và cộng điều đó vào close của final bar ấy của spike. Channel theo sau thường sẽ tìm thấy một phần resistance trong vùng ấy và thị trường thường rồi sẽ correct xuống tới đáy của channel. Measured move target này là một vùng nơi bạn có thể chốt profit trên long position của bạn. Đôi khi thị trường có thể tạo một measured move từ low của first bar của spike tới close hoặc high của final bar của spike, hoặc từ open của first bar tới high của final bar, nên khôn ngoan là nhìn vào tất cả các khả năng. Ít thường hơn, thị trường sẽ không hình thành nhiều của một channel lên và sẽ reverse xuống dưới đáy của spike, rồi tạo một measured move xuống.

Điều quan trọng cần nhớ là phần lớn thời gian thị trường đang ở trong một loại trading range nào đó và vì vậy directional probability của một equidistant move là 50 phần trăm. Nghĩa là thị trường có khả năng đi lên X points ngang bằng với khả năng đi xuống cùng số points ấy. Khi có một trend, odds tốt hơn theo hướng trend. Khi có một strong spike, odds của follow-through có thể là 60 phần trăm và đôi khi thậm chí 70 phần trăm nếu overall chart pattern nhất quán với một strong trend move. Ngoài ra, khi thị trường ở đáy của một trading range, probability nghiêng về một cú move lên; và khi nó ở đỉnh của range, probability nghiêng về một cú move xuống. Đó là vì market inertia, nghĩa là thị trường có xu hướng tiếp tục những gì nó đang làm. Nếu nó đang trending, odds nghiêng về thêm trending, và nếu nó đang trong một trading range, odds nghiêng về việc các breakout attempts sẽ thất bại. Trên thực tế, khoảng 80 phần trăm các trend reversal attempts thất bại, và đó là lý do bạn nên chờ chúng phát triển thành pullbacks rồi entry theo hướng của trend. Ngoài ra, 80 phần trăm các attempts break out khỏi một trading range thất bại, và có ý nghĩa toán học hơn nhiều khi fade các tops và bottoms của trading range so với mua các large bull trend bars gần đỉnh và short các large bear trend bars gần đáy.

Đây là một ví dụ về một measured move dùng vài giả định. Có một strong bull spike tạo bởi ba bull trend bars đã break out khỏi một trading range. Bar kế tiếp là một small doji bar, và cú pause này nghĩa là spike đã kết thúc trên prior bar, vốn là bar cuối trong chuỗi consecutive bull trend bars. Breakout mạnh vì có rất ít overlap giữa các bars, với open của mỗi bar tại hoặc trên close của prior bar. Tail lớn nhất trên bất kỳ bar nào chỉ hai ticks, và một vài bars không có tail ở đáy. First bar cao ba và một nửa points (14 ticks), second bar cao 10 ticks, third bar cao tám ticks, và fourth bar có một one-tick bull body nhưng một three-tick tail ở đáy và một two-tick tail ở đỉnh. Doji ấy là bar đầu tiên thiếu momentum và vì vậy cho bạn biết rằng spike đã kết thúc trên previous bar. Open của first bar thấp hơn close của third và final bull trend bar trong spike tám points, nên spike nên được nghĩ như cao tám points, tối thiểu. Bạn có thể dùng low của first bar tới high của third bar hoặc thậm chí high của doji fourth bar, nhưng conservative hơn nếu dùng con số nhỏ hơn cho initial projection của bạn. Nếu second leg vượt target này, rồi hãy nhìn các targets khác.

Khi spike ấy đang hình thành, nếu bạn mua tại bất kỳ điểm nào, stop trên trade của bạn có thể phải nằm dưới đáy của spike. Để lập luận, giả sử bạn sẽ risk tới thấp hơn open của first bar của spike một tick. Nếu bạn mua tại market tại highest tick khi spike cao ba points, thì bạn sẽ đang risk khoảng ba points để kiếm ít nhất ba points. Tại khoảnh khắc ấy, bạn tin rằng thị trường sẽ có một measured move lên bằng chiều cao của spike, vốn cao ba points. Bạn biết stop của bạn nằm ở đâu, và bạn chưa biết đỉnh của spike sẽ ở đâu, nhưng bạn biết rằng nó sẽ ít nhất cao bằng nơi bạn mua. Vì bạn tin rằng thị trường đang trending, bạn cảm thấy odds tốt hơn 50–50 rằng thị trường sẽ đi lên ba points trước khi rơi và hit stop ấy thấp hơn ba points.

Sau khi spike tiếp tục lớn lên tới bảy points, bạn thay đổi đánh giá của mình. Bạn lúc này tin rằng vì thị trường vẫn đang trending, odds ít nhất 50–50 rằng thị trường sẽ đi lên thêm bảy points trước khi rơi bảy points. Tại khoảnh khắc ấy, bạn đã có bốn points open profit trên một trade nơi bạn đang hy vọng ba trong lúc risk ba. Nếu muốn, bạn có thể đã mua thêm tại high tick của spike, vốn vẫn đang hình thành, và rồi risk của bạn sẽ là bảy points (có lẽ thêm vài ticks vì bạn nhiều khả năng muốn risk tới thấp hơn đáy của first bar của spike một tick), và profit target của bạn sẽ cao hơn bảy points. Tuy nhiên, trên initial long của bạn, bạn vẫn đang risk ba points nhưng lúc này có hơn 50 phần trăm chance kiếm tổng cộng 11 points (bốn từ entry của bạn tới current top của spike, rồi thêm bảy nữa).

Một khi fourth bar hình thành, vốn là một doji, bạn lúc ấy biết rằng spike lên đã kết thúc tại close của prior bar, tám points trên open của first bar của spike. Tại điểm ấy, bạn sẽ kết luận rằng thị trường có hơn 50 phần trăm chance đi lên thêm tám points trên close của spike trước khi rơi tám points xuống dưới open hoặc đáy của spike (có lẽ nhiều hơn tám points một hoặc hai ticks ở phía downside, vì safest stop nằm ngoài điểm bắt đầu của spike). Vì spike mạnh đến vậy, probability nhiều khả năng hơn 60 phần trăm.

Ngay khi spike kết thúc, two-sided trading bắt đầu, và tại điểm ấy uncertainty tăng lên. Thị trường correct sideways to down rồi channel lên bắt đầu. Dù thị trường có thể đã tạo một cú move leg 1 = leg 2 lên từ đáy của pullback này, nơi spike là leg 1 và channel là leg 2, khi một spike rất mạnh, target đáng tin cậy hơn là target dựa trên open của first bar của spike tới close của final bar của spike. Khi thị trường rally, probability của higher prices từ từ bào mòn. Khi bull channel đạt khoảng nửa khoảng cách tới measured move target, directional probability của một equidistant move rơi trở lại quanh 50 đến 55 phần trăm và uncertainty một lần nữa rất cao. Hãy nhớ, một bull channel thường được theo sau bởi một cú move trở xuống tới đáy của channel rồi ít nhất một bounce, nên bull channel thực ra là first leg của một trading range chưa hình thành. Một khi thị trường tới vùng measured move target, nó nhiều khả năng là high end của range đang hình thành ấy, và odds nghiêng về một cú move xuống. Điều này đúng với mọi trading ranges. Đây là một vùng tuyệt vời để chốt profit trên longs của bạn, và vì rất nhiều traders chốt profit trong vùng của measured move, thị trường bắt đầu pull back. Hầu hết traders sẽ không tìm cách mua aggressive trở lại cho đến khi thị trường retrace quanh đáy của channel, nơi một double bottom thường hình thành. Vùng này cũng là một magnet. Bulls bắt đầu mua lại và bears đã short tại đỉnh của channel sẽ chốt profit. Vì thị trường lúc này quanh đáy của developing trading range, directional probability hơi nghiêng về phía bulls.

Một khi thị trường bước vào trading range, directional probability của một equidistant move lại là 50–50 bất cứ khi nào thị trường gần giữa của range ấy. Nếu risk của bạn là X points, bạn có 50 phần trăm chance kiếm X points trước khi stop bị hit, và 50 phần trăm chance mất X points trước khi profit target được đạt tới. Đây là sản phẩm phụ của việc markets tương đối efficient. Phần lớn thời gian, chúng efficient và odds của việc kiếm X points trước khi mất X points gần 50–50. Trading tốt nhất xảy ra khi odds tốt hơn 50–50, nhưng điều này thường xảy ra trong các spikes, vốn mang tính emotional, diễn ra nhanh, và khó entry. Traders hiểu điều này và đó là lý do spike lớn lên rất nhanh mà không có bất kỳ pullbacks nào. Traders cứ thêm vào positions của họ suốt đường lên vì họ biết rằng cho đến khi spike kết thúc, odds của việc kiếm được nhiều bằng những gì họ đang risk tốt hơn 50–50, và odds chỉ rơi về khoảng 50–50 một khi channel đã tiến triển tốt. Khi spike ấy đang hình thành, họ không biết liệu sẽ có một pullback trước khi thị trường đi cao hơn hay không, nhưng họ tự tin rằng nó sẽ đi cao hơn trong gần hạn. Thay vì chờ một pullback có thể không bao giờ đến và vì vậy bỏ lỡ một strong trade, họ mua tại market hoặc trên các pullbacks một đến bốn ticks và risk quanh đáy của spike. Sự urgency ấy nằm sau sự hình thành của spikes, và increased risk giữ nhiều traders tránh xa. Hầu hết beginners không sẵn sàng risk ba đến bảy points. Thay vào đó, họ nên đơn giản mua một small position, có lẽ một phần tư size thông thường của họ, và chấp nhận risk ấy, vì đó chính là điều institutions đang làm. Họ hiểu math và vì vậy không sợ lấy trade.

Cú move hướng tới một 50–50 market này là cơ sở của mọi measured move trades. Odds đang mất cân bằng, và cú rally tới measured move là một nỗ lực khôi phục uncertainty. Thị trường luôn luôn overshoot và phải backtrack để nhắm đúng vào một 50–50 market. Vùng measured move là một overshoot của odds, và lúc ấy chúng tạm thời nghiêng về phía bears. Một khi thị trường retrace tới đáy của channel, odds lại overshoot, nhưng lần này nghiêng về phía bulls. Khi thị trường bounce trở lên hướng tới giữa của developing trading range, odds một lần nữa quanh 50–50 và thị trường đang in balance.

Figure 7.1 — Leg 1 = Leg 2

Exxon Mobil (XOM) có một strong first leg lên từ bar A tới bar B trên daily chart được thể hiện trong Figure 7.1, nên traders mua higher low tại bar C cho một possible rally leg 1 = leg 2. Bar D hơi undershoot target (đỉnh của dashed line). Một khi trong vùng của target, nhiều traders nhìn thấy điều họ nghĩ có thể là một two-legged bear rally sau cú sell-off tới bar A. Nếu bạn dùng ABC labeling, bar B là điểm A, bar C là điểm B, và bar D là điểm C, và vì sự nhầm lẫn này, tốt hơn nên đơn giản gọi cú move lên tới bar B là leg 1, cú sell-off xuống tới C là pullback, và cú rally lên tới D là leg 2.

Một khi có một higher low tại bar E và cú rally break lên trên bar D, một trader có thể nhìn AD như một first leg chứa hai smaller legs (AB và CD), rồi stay long cho đến khi có một measured move lên (AD = EF, và target là đỉnh của solid line).

Fibonacci traders cũng nhìn tới các extensions khác (138 phần trăm, 150 phần trăm, 162 phần trăm, v.v.) như những vùng hợp lệ để tìm reversals, nhưng điều này quá phức tạp và approximate. Một khi thị trường đã rõ ràng có two-sided behavior, việc tìm cách buy low và sell high bất cứ khi nào có một strong signal cũng đáng tin cậy như vậy.

Figure 7.2 — Variant of Leg 1 = Leg 2

Đôi khi một measured move leg 1 = leg 2 có một leg 1 không phải là absolute low của initial sell-off. Cú correction lên từ first leg xuống thường là một two-legged move hoặc một wedge bear flag, nhưng pullback từ một trong hai thường rơi xuống dưới điểm bắt đầu của corrective leg, như đã xảy ra trong Figure 7.2 tại bar 6. Tới lúc bar 9 hình thành điều trông như là điểm kết thúc của pullback từ first leg xuống, những astute traders đã mở ra với khả năng rằng cú correction lên tới bar 9 bắt đầu tại bar 4 chứ không phải bar 6, và vì vậy nghĩ rằng second leg xuống có thể bằng first leg xuống từ bar 1 tới bar 4 thay vì first leg xuống từ bar 1 tới bar 6. Đáy của bar 12 là một measured move leg 1 = leg 2 hoàn hảo tới từng tick dựa trên điểm kết thúc first leg tại bar 4. Nếu thay vào đó thị trường tiếp tục xuống, thì traders sẽ theo dõi xem điều gì xảy ra một khi nó rơi tới vùng của leg 1 = leg 2 dựa trên một leg 1 kết thúc tại bar 6.

Tại sao việc cân nhắc khả năng rằng leg 1 kết thúc tại bar 4 lại có nghĩa? Traders đang tìm một two-legged pullback lên trước khi second leg xuống bắt đầu, và cú move lên từ bar 6 tới bar 9 nằm trong một channel và vì vậy nhiều khả năng chỉ là một leg. Elliott Wave traders biết rằng các upward corrections có thể gồm một pullback đi xuống dưới đáy của initial move xuống, và họ gọi kiểu correction sideways này là một flat. Flat ở đây sẽ là cú move lên tới bar 5, cú move xuống tới bar 6, và cú move lên tới bar 9. Ngoài ra, cú move lên tới bar 5 là một reasonably strong bull spike và vì vậy nó là một possible start của correction. Pullback tới bar 6 từ spike lên ấy là một lower low pullback, và lower low pullbacks phổ biến. Vì vậy, khi correction đang hình thành, traders không bị làm phiền bởi cách diễn giải này.

Bars 5 và 8 hình thành một potential double top bear flag, nhưng breakout tới bar 9 loại bỏ khả năng ấy. Tuy nhiên, bất cứ khi nào có một breakout lên trên một double top, traders theo dõi xem liệu nó có thất bại hay không. Nếu có, điều này về bản chất là một wedge top. Ba pushes lên là double top của bar 5 và bar 8 theo sau bởi failed breakout tới bar 9.

Một khi thị trường spike xuống tới bar 10 sau failed breakout, traders tin rằng second leg xuống từ high của bar 1 đã bắt đầu.

Có một số noteworthy features khác trên chart này. Bar 12 là một expanding triangle bottom với bars 4, 6, và 12 là ba pushes xuống.

Ngày đầu tiên mở với một sharp rally lên tới bar 3 rồi một sharp sell-off xuống tới bar 6 mở rộng khoảng xa dưới open ngang bằng với mức bar 3 cao trên open. Dù range nhỏ, nó khoảng average so với các recent days (cuối December thường có small days). Bất cứ khi nào một ngày có một average range và open nằm giữa range, thị trường thường cố close quanh open. Traders biết điều này, và đó là lý do tight trading range theo sau bar 7 có một good chance có một breakout test open của ngày. Ngày close cao hơn open một tick, và điều này hình thành một nearly perfect doji candle trên daily chart.

Cú rally tới bar 9 là một breakout test của cú sell-off dưới bar 3. Cú sell-off tới bar 23 là một breakout test của cú rally trên bar 13, và nó miss các breakeven stops một tick. Nó cũng là một exact test của open của ngày.

Figure 7.3 — Measured Move Based on Middle of Trading Range

Trong Figure 7.3, Research in Motion (RIMM) có một sharp move lên tới bar 2 sau một opening reversal từ dưới yesterday’s low, rồi một pullback tới bar 3. Vì một second leg lên nhiều khả năng xảy ra sau một strong three-bar bull spike, nếu traders quan tâm biết nó có thể kết thúc ở đâu, họ có thể tiếp tục điều chỉnh line B để nằm giữa developing range. Một khi thị trường breaks out, họ có thể tạo một parallel và kéo nó equidistantly lên từ line A cho một measured move, nơi họ có thể kỳ vọng chốt profit. Dù thị trường đang trong một trading range, có một slight bias hướng tới một upside breakout vì cú move trước trading range hướng lên và hầu hết các bars trong trading range là bull trend bars, thể hiện buying pressure.

Cho đến khi thị trường break out khỏi triangle bằng cách đi lên trên bar 6, traders có thể đã trade theo cả hai hướng, như họ có thể trong bất kỳ trading range nào. Vì một trading range là một vùng nơi cả bulls lẫn bears đã đồng ý rằng có value, hầu hết các probes rời khỏi middle thất bại và thị trường sẽ bị hút trở lại vào range. Cuối cùng, thị trường sẽ break xa khỏi magnetic field và tìm value tại một mức giá khác.

Figure 7.4 — Measured Move Based on Bear Spike

Khi có một news release tạo ra một spike, spike thường dẫn tới một measured move nơi traders có thể tìm cách chốt profit. Trong Figure 7.4, tại bar 1 thị trường bị bất ngờ bởi một announcement về việc president đề xuất các banking regulations mới, và điều này dẫn tới hai large bear trend bars. Một khi có một pause bar như một doji, một bar với một large tail ở đáy, hoặc một bar với một bull body, thì bạn biết rằng spike đã kết thúc trên prior bar. Ở đây, spike kéo dài hai bars và traders tìm một measured move xuống từ close của final bar của spike. Họ kỳ vọng nó khoảng cùng số ticks như từ open của first bar của spike xuống tới close của final bar của spike. Đôi khi high của first bar tới low của final bar của spike trở thành chiều cao của measured move, nhưng traders sẽ luôn nhìn khả năng gần nhất trước và chỉ tìm các bigger moves nếu first target thất bại trong việc chứa thị trường. Target này là một nơi tốt để lấy final profit trên một swing short rồi tìm một pullback để short lại. Nếu có một strong reversal signal tại vùng test ấy, một countertrend trade có thể được cân nhắc.

Figure 7.5 — A Spike Can Lead to a Measured Move Up or Down

Một spike có thể được theo sau bởi một measured move theo một trong hai hướng. Trong Figure 7.5, có một strong six-bar rally trên open, nhưng thị trường thất bại tại moving average trong ngày large gap down này và cuối cùng đạt tới một measured move về phía downside. Cú move dựa trên open của first bar của spike tới close của final bar của spike. Dù hầu hết spikes kết thúc ngay khi có bất kỳ pause bar nào, nếu cú move tiếp tục lên sau pause, bạn nên cân nhắc khả năng rằng nó sẽ hoạt động như một spike, vốn nhiều khả năng đúng trên một higher time frame chart.

Chapter 8 — Measured Moves Based on Gaps and Trading Ranges

Gaps phổ biến trên daily charts nơi low của một bar nằm trên high của prior bar hoặc high của một bar nằm dưới low của prior bar. Nếu có conviction về hướng của thị trường, middle của gap thường trở thành middle của trend. Khi thị trường tiến gần measured move target, traders sẽ nhìn kỹ vào exact target và thường chốt partial hoặc total profits trong vùng ấy, và một số traders sẽ bắt đầu lấy positions theo hướng ngược lại. Điều này thường dẫn tới một pause, một pullback, hoặc thậm chí một reversal.

Khi một breakout xảy ra trên một intraday chart, kiểu gap này chỉ hiếm khi xuất hiện. Tuy nhiên, thường có thứ gì đó đáng tin cậy tương đương, đó là một gap giữa breakout point và first pause hoặc pullback. Ví dụ, nếu thị trường breaks out trên một swing high và breakout bar là một relatively large bull trend bar và low của next bar nằm trên breakout point, thì có một gap giữa low ấy và breakout point và điều đó thường trở thành một measuring gap. Nếu bar sau breakout cũng là một large bull trend bar, thì hãy chờ first small bull trend bar, bear trend bar, hoặc doji bar. Low của nó lúc ấy là top của gap. Nếu breakout point hoặc breakout pullback không rõ, thị trường thường sẽ chỉ dùng middle của breakout bar như middle của gap. Trong trường hợp này, measured move dựa trên điểm bắt đầu của cú rally tới middle của breakout bar. Thị trường lúc ấy sẽ được kỳ vọng rally khoảng cùng số ticks trên mức ấy.

Nếu thị trường pulls back trong vòng vài bars sau khi breaking out và low của pullback nằm trong gap, thì gap lúc này nhỏ hơn nhưng midpoint của nó vẫn có thể được dùng để tìm một measured move target. Nếu thị trường pulls back xa hơn, thậm chí hơi dưới gap, midpoint giữa breakout point và pullback ấy vẫn có thể được dùng cho projection. Vì difference giữa breakout pullback và breakout point lúc ấy là một số âm, tôi gọi đây là một negative gap. Measured move projections kém đáng tin cậy hơn khi chúng dựa trên một negative gap.

Trên một Market Profile, những intraday measuring gaps nơi thị trường di chuyển nhanh này là các thin areas giữa hai distributions, và đại diện cho các mức giá nơi thị trường đang one-sided. Các distributions là các “fat” areas và đơn giản chỉ là các trading ranges nơi two-sided trading đang diễn ra. Một trading range là một vùng thỏa thuận về price, và middle của nó là middle của những gì bulls và bears nghĩ là fair. Một gap cũng là một vùng thỏa thuận. Nó là một vùng nơi bulls và bears đồng ý rằng không nên có trading diễn ra, và middle của nó là midpoint của vùng ấy. Trong cả hai trường hợp, ở mức simplistic, nếu những mức giá ấy là một midpoint của thỏa thuận giữa bulls và bears, thì chúng là một rough guide tới midpoint của leg chứa chúng. Một khi chúng hình thành, hãy swing một phần hoặc toàn bộ with-trend entries của bạn. Khi target được tiến gần, hãy cân nhắc countertrend entries nếu có một good setup. Hầu hết traders dùng chiều cao của prior trading range để đo, điều này ổn vì exact distance chỉ là approximate bất kể bạn làm thế nào (trừ khi bạn là một Fibonacci hoặc Elliott Wave trader và có khả năng kỳ lạ thuyết phục bản thân rằng thị trường gần như luôn tạo ra perfect patterns, bất chấp overwhelming evidence ngược lại). Chìa khóa là chỉ trade theo trend, nhưng một khi thị trường đang trong vùng của measured move, bạn có thể bắt đầu tìm countertrend entries. Tuy nhiên, những best countertrend trades chỉ theo sau một earlier countertrend move đủ mạnh để break trend line.

Nếu thị trường pauses sau khi measured move được đạt tới, hai strong trend legs có thể đơn giản chỉ là điểm kết thúc của một higher time frame correction, và nếu điều đó có vẻ đúng, thì hãy swing một phần của bất kỳ countertrend entry nào. Hai legs thường hoàn thành một cú move, và cú move thường được theo sau bởi ít nhất một protracted countertrend move có ít nhất hai legs, và đôi khi nó trở thành một new, opposite trend. Countertrend move thường sẽ test suốt đường trở lại tới breakout point.

Đôi khi các projections chính xác tới từng tick, nhưng hầu hết thời gian thị trường undershoots hoặc overshoots target. Approach này chỉ là một guideline để giữ bạn trading đúng phía của thị trường.

Figure 8.1 — Measuring Gap

Middle của một gap thường dẫn tới một measured move. Trong Figure 8.1, Emini có một gap up tại bar 3, trên high của bar 2 của previous day, và middle của gap ấy là một possible middle của cú move lên. Traders đo từ đáy bar 1 của cú rally tới middle của gap rồi chiếu cùng số points ấy lên trên. Bar 4 tiến trong vòng vài ticks của projection, nhưng nhiều traders tin rằng một target trên Emini chưa được test đủ trừ khi thị trường tiến trong vòng một tick của nó. Điều này cho traders sự tự tin để mua cú sharp sell-off trên open của ngày hôm sau xuống tới bar 5. High of the day cao hơn measured move projection hai ticks. Thị trường sold off vào ngày hôm sau xuống tới bar 7 nhưng rallied lại để test vừa dưới target. Vào ngày tiếp theo, bulls bỏ cuộc và có một large gap down rồi một sell-off. Chắc chắn có các news announcements mà television pundits dùng để giải thích tất cả các cú moves, nhưng thực tế là các cú moves dựa trên math. News chỉ là cái cớ để thị trường làm điều nó đã định làm rồi.

Figure 8.2 — Measuring Gaps

Figure 8.2 cho thấy hai ngày có measured moves dựa trên thin areas. Một thin area là một breakout area nơi có rất ít overlap của các bars.

Thị trường có một sharp move lên từ bar 3 trên Federal Open Market Committee (FOMC) report lúc 11:15 a.m. PST, và broke trên high of the day tại bar 2. Flag tại bar 4 tested breakout với một two-legged sideways correction, và có một small negative gap giữa top của bar 2 và bottom của bar 4 breakout test. Nếu bạn trừ high của bar 2 breakout point khỏi low của bar 4 pullback, bạn được một số âm cho chiều cao của gap. Dù middle của một negative gap đôi khi cho một perfect measured move, phổ biến hơn thì điểm kết thúc của measured move sẽ bằng top của breakout point, ở đây là high của bar 2, trừ bottom của initial trading range, ở đây là low của bar 1. Bạn cũng có thể dùng low của bar 3 để tính measured move, nhưng luôn tốt hơn nếu nhìn nearest target trước và chỉ cân nhắc các further targets nếu thị trường trades xuyên qua các lower ones. Thị trường đạt tới line C target từ measured move line A (bar 1) tới line B đúng trên last bar của ngày, và poked trên line D target dùng projection từ bar 3 tới line B trên open của ngày hôm sau. Dù bar 1 cao hơn bar 3, nó vẫn có thể được coi là đáy của measured move bằng cách nghĩ cú sell-off tới bar 3 chỉ là một overshoot của actual low của leg tại bar 1.

Vào ngày thứ hai, có một gap dưới bar 7 và trên bar 8, và line F target bị vượt vừa trước close.

Nhân tiện, cũng có một double top bear flag tại bars 8 và 9.

Figure 8.3 — Profit Taking at Measured Move Targets

Apple (AAPL) đang trong một strong bull trend trên monthly chart được thể hiện trong Figure 8.3. Bất cứ khi nào có một trend, traders tìm các logical levels nơi họ có thể chốt partial hoặc full profits. Họ thường quay sang measured moves. Bar 13 vừa trên measured move dựa trên strong rally từ bar 4 tới bar 5.

Bar 10 là một bull trend bar đã break out trên bar 9 pullback từ attempted breakout trên bar 5. Mọi trend bar đều là một breakout bar và một gap bar, và ở đây bar 10 hoạt động như một breakout gap và một measuring gap. Dù bar 11 spiked dưới bar 10, cú move xuống khó có nhiều follow-through như một failed breakout bar, vì signal bar là third consecutive strong bull trend bar. Đây là quá nhiều momentum để là một reliable short. Thị trường tested vào gap trên bar 9 lần nữa tại bar 12, và pullback này cho traders một potential measuring gap. Thị trường quay xuống tại bar 13, khoảng 3 phần trăm dưới target dựa trên cú move lên từ low của bar 8 tới middle của gap ấy. Nó có thể đang trong quá trình hình thành một two-bar reversal, vốn có thể dẫn tới một deeper correction có thể có một vài legs và kéo dài 10 bars trở lên. Vì bar 13 là sixth consecutive bull trend bar, momentum lên vẫn còn mạnh. Khi nhiều strength đến vậy xuất hiện sau một protracted bull trend, nó đôi khi đại diện cho một climactic exhaustion của trend và được theo sau bởi một large correction. Đây là một vùng hợp lý để chốt partial hoặc full profits trên longs, nhưng chưa phải một setup đủ mạnh để traders khởi tạo shorts dựa trên monthly chart này. Tuy nhiên, vì chưa có một clear top, thị trường có thể có một push lên nữa tới measured move target dựa trên bar 10 gap.

Dù còn quá sớm để nói, traders có thể đang dùng low của bar 8 tới high của bar 9 để tạo một measured move target. Dù không được thể hiện, target ấy nằm vừa dưới target dựa trên bull spike từ bar 4 tới bar 9, vốn thị trường đã vượt. Traders cần thấy thêm bars trước khi họ biết liệu high đã hình thành hay nó sẽ đạt tới target dựa trên bar 10 gap. Nếu có, nó có thể hoặc không tìm thấy profit takers và shorts, nhưng vì nó là một clear measured move magnet, đó là một vùng logic để cả hai đều hiện diện.

Figure 8.4 — Measured Moves

Như được thể hiện trong Figure 8.4, cú move xuống tới breakout pullback bear flag quanh bar 3 dốc, và một reasonable target cho một measured move xuống là từ top của leg (bar 2) tới approximate middle của flag (line C). Điều này chiếu tới line D, vốn bị overshoot và dẫn tới một moving average test. Bạn cũng có thể đã dùng high của bar 1 cho một measurement, nhưng nhìn chung bạn nên nhìn điểm bắt đầu của current leg cho first target của bạn. Sau khi line D target được đạt tới, line E target dựa trên starting point tại bar 1 bị hit không lâu sau đó. Lưu ý rằng cú move xuống tới bar 4 từ bar 2 là một strong bear trend không có significant trend line break, nên tốt nhất là stick với with-trend setups.

Small wedge bear flag quanh bar 4 chủ yếu nằm ngang và vì vậy là một possible final bear flag, nhưng vì chưa có một sharp rally (như một gap bar trên exponential moving average), các countertrend trades phải là scalps (nếu bạn lấy chúng chút nào). Bạn chỉ nên lấy chúng nếu bạn là một trader đủ giỏi để rồi chuyển sang with-trend trades ngay khi một cái phát triển. Nếu không, bạn không nên trading countertrend và thay vào đó bạn nên làm việc chăm chỉ để lấy with-trend entries. Chỉ việc đang trong vùng của một measured move không phải là đủ lý do cho một countertrend entry. Bạn cần một phần earlier countertrend strength nào đó.

Vào ngày thứ hai, có một flag quanh bar 10, sau breakout trên bar 8. Breakout này trên double bottom bull flag chiếu lên tới line H. First bottom là one-bar pullback trong spike lên từ bar 7. Nếu thay vào đó bạn dùng low of the day tại bar 7, target sẽ được đạt tới không lâu sau gap up vào ngày hôm sau.

Một khi có một breakout flag, khôn ngoan là swing một phần của with-trend trade của bạn cho đến khi measured move được đạt tới. Tại điểm ấy, hãy cân nhắc một countertrend trade nếu có một good setup.

Figure 8.5 — Measuring Gaps

Như được thể hiện trong Figure 8.5, line B là midpoint của thin area giữa breakout (high của bar 2) và low của first pullback (low của bar 5). Measured move bị hit chính xác tới từng tick tại bar 8.

Line E là midpoint của một thin area và thị trường overshoot mạnh line F projection của nó. Breakout từ bar 12 bear flag có một huge thin area xuống tới bar 13, nhưng quá muộn trong ngày đến mức một measured move từ midpoint của nó khó có khả năng được đạt tới. Tuy nhiên, tại điểm ấy ngày rõ ràng là một bear trend day và traders chỉ nên shorting trừ khi có một clear and strong long scalp (có một vài cái trong final hour). Five-bar spike xuống tới bar 13 dẫn tới một measured move xuống, và low of the day miss nó một tick.

Nhân tiện, cú move tới bar 7 broke một trend line, cho thấy bears đang mạnh lên, và cú move tới bar 9 broke một major trend line, thiết lập lower high test của trend extreme tại bar 10 (bar 8), và bear trend theo sau.

Chapter 9 — Reversals Often End at Signal Bars from Prior Failed Reversals

Entry price của một early reversal đã thất bại thường là một magnet cho một later, successful reversal. Ví dụ, nếu có một bear trend và đã có vài bull entries thất bại khi thị trường tiếp tục sell off, mỗi entry price ấy và highs của mọi signal bar sẽ là targets một khi một reversal lên cuối cùng thành công. Thị trường thường sẽ rally suốt đường tới high của highest signal bar trước khi có một significant pullback. Nhiều khả năng một số traders đã entry trên những higher signals ấy đã scaled in khi thị trường đi ngược họ và rồi dùng initial entry của họ như final profit target, exit breakeven trên worst entry của họ và chốt profit trên tất cả các lower entries. Có thể chỉ là smart traders tin điều này đúng và sẽ dump longs của họ tại những targets ấy, hoặc nó có thể đơn giản chỉ là một trong nhiều secret handshakes mà mọi great traders đều biết, và họ exit ở đó đơn giản vì họ biết đó là một reliable recurring pattern để pullbacks kết thúc gần earlier entry points. Nó cũng có thể là kiểu mức giá “Cảm ơn Chúa, tôi sẽ không bao giờ làm vậy nữa!” đối với traders. Họ đã không exit một losing trade, và loss của họ cứ lớn dần trong lúc họ cứ hy vọng thị trường quay lại entry của họ. Khi cuối cùng nó làm vậy, họ exit và thề rằng họ sẽ không bao giờ mắc sai lầm ấy nữa.

Có một mathematical basis cho hầu như mọi thứ xảy ra trong trading, đặc biệt vì quá nhiều volume được tạo ra bởi software algorithms dựa trên statistical analysis. Trong ví dụ về bear trend ấy đã reverse lên, earliest buy signal ấy thường nằm tại điểm bắt đầu của một bear channel. Khi một bear channel bắt đầu, directional probability của một equidistant move ít nhất 60 phần trăm. Nghĩa là thị trường có khoảng 60 phần trăm chance rơi 10 ticks trước khi rally 10 ticks. Đó có thể là bất kỳ kích thước move nào trong tầm hợp lý dựa trên recent swings, nhưng điểm then chốt là thị trường có một downside bias. Khi thị trường rơi và momentum chậm lại, directional probability rơi về quanh 50 phần trăm khi cú move xuống khoảng đi được nửa đường, nhưng mức giá của vùng trung lập này thường không biết được cho đến sau khi thị trường hình thành một trading range. Khi nó tiếp tục rơi xuống tới một significant magnet nào đó, directional probability overshoots neutrality và thực sự chuyển nghiêng về phía bulls. Ở giữa trading range, có uncertainty; nhưng một khi thị trường hit đáy, có thỏa thuận rằng thị trường đã đi quá xa. Tại điểm này, directional probability nghiêng về phía bulls. Nó rồi sẽ rally và bắt đầu hình thành một trading range. Directional probability luôn nghiêng về phía bulls tại đáy của một trading range, và đáy ấy sẽ nằm tại một key technical price nào đó. Có nhiều mức để chọn khi thị trường đang rơi, và hầu hết không dẫn tới một clear buy setup. Một số firms sẽ viết programs dựa trên một hoặc nhiều technical support levels, và các firms khác sẽ dùng những cái khác. Khi đủ nhiều key technical areas xảy ra gần nhau, sẽ có đủ volume betting trên một reversal để đổi hướng. Tại điểm ấy, math đứng về phía bạn vì bạn đang mua tại điều sẽ là đáy của một trading range. Reversal point không bao giờ được biết chắc chắn trước, nhưng nó sẽ xảy ra với một loại reversal pattern nào đó; điều quan trọng là theo dõi những patterns này khi thị trường ở các key technical levels, như tại measured move targets, trend lines, và thậm chí higher time frame moving averages và trend lines. Điều này được thảo luận thêm trong chapter về reversals trong book 3. Thường không cần nhìn nhiều charts để tìm setups vì sẽ có một reasonable setup trên mọi chart nếu bạn kiên nhẫn, cảnh giác, và nhận thức về các patterns.

Một khi thị trường quay lên, nó thường sẽ cố hình thành một trading range, và những first possibilities cho đỉnh của incipient trading range là những earlier long entry prices ấy. Thị trường sẽ cố rally tới đỉnh của những bull signal bars ấy. Khi nó đang đi lên, directional probability rơi trở lại 50 phần trăm, và nó tiếp tục rơi xa hơn khi thị trường tiến gần đỉnh của range. Vì đỉnh ấy không bao giờ được biết trước và middle của trading range nơi directional probability trung lập không bao giờ được biết trước, thị trường overshoots cho đến khi nó hit một technical level nào đó nơi traders tin rõ ràng rằng nó đã overdone. Điều này thường nằm tại mức của những earlier buy signals ấy. Hãy nhớ, directional probability nghiêng về phía bears khi giá lần cuối ở đó, và khi nó tới đó lần nữa nó thường nghiêng về phía bears một lần nữa; đó là lý do thị trường điển hình quay xuống ở đó lần nữa. Đó là một mức giá nơi sellers đã nắm quyền kiểm soát. Cú rally thường hình thành một double top với một trong những earlier entry bars ấy rồi quay xuống, ít nhất tạm thời, khi trading range phát triển. Thị trường thường sẽ đi lên và xuống khi nó tìm kiếm uncertainty, nghĩa là một neutral directional probability 50 phần trăm. Tại một điểm nào đó, thị trường sẽ quyết định rằng vùng này không còn đại diện cho value đối với cả bulls lẫn bears và rằng đó là một bad price đối với một phía. Thị trường rồi sẽ trend lại cho đến khi nó tìm thấy một mức giá mà cả bulls lẫn bears nhìn như một good price để khởi tạo positions.

Figure 9.1 — Earlier Entry Points Are Targets for Pullbacks

Monthly chart của SPY (một exchange-traded fund tương đương với Emini) có một strong bull trend kết thúc năm 2000, nhưng có vài attempts reverse thành một bear trend khi thị trường tiếp tục lên (xem Figure 9.1). Mỗi bear signal bar low (bars 1, 2, và 3) là một target cho bất kỳ correction nào trên đường xuống.

Cũng vậy, bear trend kết thúc năm 2003 có vài failed bull reversal attempts dọc đường (bars 4, 5, và 6) và high của mỗi bull signal bar là một target cho bất kỳ subsequent rally nào.

Ngoài ra, cú rally từ 2003 có vài failed bear attempts (bars 7, 8, 9, và 10), và mỗi cái là một target trong bear trend kết thúc đầu 2009. Cú sell-off ấy có vài bottom attempts, và high của mỗi buy signal bar ấy (bars 11, 12, và 13) là một target cho current rally. Cuối cùng, cú rally lên tới bar 17 có vài attempts tại một top (bars 14, 15, và 16), và bottom của mỗi sell signal bar ấy là một magnet trên bất kỳ sell-off nào.

Không target nào bắt buộc phải được đạt tới, nhưng mỗi cái là một strong magnet thường xuyên hút thị trường trở lại mức của nó.

Chapter 10 — Other Magnets

Có nhiều price magnets khác sẽ có xu hướng hút thị trường về phía chúng để test. Đây là một list của một số cái. Nhiều trong số này được thảo luận ở những chỗ khác trong các cuốn sách. Khi một market đang trending hướng tới một magnet, khôn ngoan là trade theo trend cho đến khi magnet được tested và tốt hơn là overshot. Đừng trade countertrend tại magnet trừ khi đã có một phần prior countertrend strength như một trend line break, hoặc trừ khi cú move là một pullback trong một higher time frame trend.

  • Trend lines.
  • Trend channel lines.
  • Bất kỳ measured move target nào bao gồm một projection leg 1 = leg 2.
  • Spike and channel: điểm bắt đầu của channel thường được tested không lâu.
  • High, low, open, và close của yesterday.
  • Swing highs và lows của vài bars gần đây hoặc thậm chí vài ngày, thường thiết lập double bottom bull flags và double top bear flags.
  • Breakout points.
  • Gaps thuộc bất kỳ loại nào, bao gồm moving average gaps.
  • Extreme của một trend sau mọi loại pullback (xem Chapter 11 về first pullback sequence).
  • Trading ranges từ sớm hơn trong ngày hoặc các prior days, bao gồm tight trading ranges và barbwire: các extremes và middle thường được tested.
  • Approximate middle of the range trên một trading range day, đặc biệt nếu có một intraday trading range trong vùng ấy (một fat area).
  • Final flags: sau breakout từ flag, thị trường quay lại flag và thường breaks out phía kia.
  • Barbwire.
  • Entry bar và signal bar protective stops.
  • Entry price (breakout test).
  • Huge trend bar opposite extreme (low của một huge bull trend bar và high của một huge bear trend bar).
  • Common profit targets cho scalp và swing positions: trên AAPL, 50 cents và một dollar; trên 5 minute Emini, năm đến sáu ticks cho một four-tick scalp, và ba, bốn, và 10 points cho một swing.
  • Một cú move bằng kích thước của required protective stop: nếu một Emini trade yêu cầu bạn dùng một 12-tick protective stop để tránh bị stopped out, hãy kỳ vọng cú move cuối cùng đạt 12 ticks theo hướng có lợi cho bạn.
  • Daily, weekly, và monthly swing highs và lows, bar highs và lows, moving averages, gaps, Fibonacci retracements và extensions, và trend lines.
  • Round numbers như hundreds trên stocks (ví dụ, AAPL tại $300) và thousands trên Dow Jones Industrial Average (Dow 12,000). Nếu một stock nhanh chóng di chuyển từ $50 tới $88, nó nhiều khả năng sẽ cố test $100 và thường đi tới $105 hoặc $110 trước khi pulling back.

Figure 10.1 — Big Trend Bar Extremes Are Magnets

Khi có một huge trend bar với small tails, traders entry trên bar hoặc không lâu sau đó thường sẽ đặt protective stops của họ ngoài bar. Khá phổ biến rằng thị trường sẽ tìm đường tới những stops ấy rồi reverse trở lại theo hướng của trend bar.

Bar 1 trong Figure 10.1 là một huge bull trend bar với một shaved bottom. Thị trường reverse xuống từ bear inside bar theo sau và hình thành một higher low, nhưng không trước khi chạy các protective stops dưới low của trend bar. Smart traders sẽ đã short inside bar, nhưng họ sẵn sàng go long trên bar 2 bull reversal bar đã hit các stops rồi quay thị trường trở lên.

Bars 3 và 4 cũng là các huge trend bars với small tails, nhưng không cái nào được theo sau bởi một immediate pullback chạy stops.